Trong bản tin tài nguyên nước hàng tháng đánh giá biến động mực nước dưới đất tháng hiện thời so với tháng trước, cùng kỳ năm trước và 5 năm trước cho toàn vùng Tây Nguyên và tại các tỉnh thành phố cho các tầng chứa nước chính tầng chứa nước lỗ hổng bồi tích hiện đại (Q), tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pleistocen giữa (βQII),
Diễn biến mực nước dưới đất tháng 1/2019 so với giá trị trung bình tháng 7/2018 cho thấy mực nước có xu hướng dâng ở tất cả các tầng chứa nước chính. Mực nước trung bình tháng sâu nhất ở tầng qp2-3 là 31,83m tại phường Đông Hưng, quận 12, TP Hồ Chí Minh (Q019340).
Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ hiện có các công trình quan trắc ở các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi và thành phố Đà Nẵng. Các tầng chứa nước chính theo thứ tự từ trên xuống gồm tầng chứa nước lỗ hổng Holocene (qh) và Pleistocene (qp).
Vùng Tây Nguyên gồm có 4 tầng chứa nước chính. Theo thứ tự từ trẻ đến già gồm: tầng chứa nước lỗ hổng bồi tích hiện đại (Q), tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pleistocen giữa (βQII), tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pliocen-Pleistocen dưới (βN2-QI) và tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng vỉa các thành tạo đầm hồ trầm tích Neogen (N).
Vùng Nam Bộ có 5 tầng chứa nước chính theo thứ tự từ trẻ đến già gồm: tầng chứa nước Pleistocene thượng (qp3), tầng chứa nước Pleistocene trung-thượng (qp2-3), tầng chứa nước Pleistocene hạ (qp1), tầng chứa nước Pliocene trung (n22), tầng chứa nước Pliocene hạ (n21). Trên cơ sở kết quả quan trắc tài nguyên nước dưới đất năm 2017 và các tháng đầu năm 2018,
Vùng Tây Nguyên gồm có 4 tầng chứa nước chính. Theo thứ tự từ trẻ đến già gồm: tầng chứa nước lỗ hổng bồi tích hiện đại (Q), tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pleistocen giữa (βQII), tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pliocen-Pleistocen dưới (βN2-QI) và tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng vỉa các thành tạo đầm hồ trầm tích Neogen (N)
Diễn biến mực nước dưới đất tháng 1/2018 so với giá trị trung bình tháng 12/2017 cho thấy mực nước có xu thế hạ ở hầu hết các tầng chứa nước chính, tầng chứa nước n21 có xu hướng dâng hạ không đáng kể. Mực nước sâu nhất ở tầng qp2-3 là 33,76m tại phường Đông Hưng, quận 12, TP Hồ Chí Minh (Q019340).
Chi tiết xin xem tệp đính kèm!
Điều tra hiện trạng đối với các vườn cà phê trước tái canh tại Tây Nguyên nhằm đưa ra khuyến cáo trong công tác tái canh cà phê vối là việc làm hết sức quan trọng và cần thiết trong chương trình tái canh cà phê do Bộ Nông nghiệp và PTNT phát động. Kết quả điều tra chỉ ra rằng: Vườn > 20 năm tuổi phải tái canh là do bị bệnh vàng lá, thối rễ 21,4 - 26,8%. Vườn ≤ 20 năm tuổi mà phải nhổ đi để tái canh là do bị bệnh nặng với 25% số vườn có 10% cây bị bệnh và tới 75% số vườn có trên 20% cây bị bệnh.
Các loài nấm Chaetomium được nghiên cứu sử dụng như một tác nhân sinh học phòng trừ tác nhân gây bệnh cây. Nghiên cứu này được tiến hành nhằm xác định nấm Chaetomium từ các mẫu đất thu thập, mẫu đất được thu thập từ đất trồng cây sầu riêng tại tỉnh Tiền Giang và Vĩnh Long trong năm 2017. Các loài nấm Chaetomium được phân lập bằng kỹ thuật bẫy đất với các mảnh giấy lọc và được định danh tên loài bằng kỹ thuật truyền thống, sinh học phân tử.
Nghiên cứu đánh giá đặc điểm nông sinh học và khả năng chịu hạn thông qua thí nghiệm gây hạn nhân tạo ở giai đoạn cây con trong điều kiện nhà lưới của 3 dòng ngô mang gen chịu hạn modiCspB ở thế hệ T5 gồm V152-CG, C7N-CG và C436-CG với đối chứng là các dòng nền không chuyển gen tương ứng: V152, C7N và C436. Kết quả cho thấy: Trong cùng một nguồn dòng (giữa dòng chuyển gen và dòng nền tương ứng) không có sự khác nhau về hầu hết các đặc điểm nông sinh học chính ở mức độ tin cậy 95%.
Rệp sáp bột hồng (Phenacoccus manihoti) được phát hiện lần đầu tiên tại Việt Nam vào năm 2012. Nhiều kết quả nghiên cứu của thế giới đã khẳng định loài ong ký sinh Anagyrus lopezi có khả năng kiểm soát hiệu quả rệp sáp bột hồng hại sắn. Kết quả nghiên cứu tại tỉnh Tây Ninh từ năm 2013 đến năm 2015 đã cho thấy ong ký sinh Anagyrus lopezi có khả năng hạn chế mức độ gây hại của rệp sáp bột hồng, tỷ lệ ký sinh đạt cao nhất (83,1 - 92,5%) sau khi thả ong 60 ngày.
Thí nghiệm đồng ruộng được thực hiện trong 8 vụ (từ Đông Xuân 2011 - 2012 đến Hè Thu 2015) tại khu thực nghiệm của Trung tâm Giống nông nghiệp, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang. Mục tiêu của nghiên cứu này là xác định được hiệu suất sử dụng của đạm, lân và kali cho lúa trên vùng đất phèn với cơ cấu lúa 2 vụ/năm; vùng phèn của Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Thí nghiệm được thực hiện trên giống lúa OM5451 với kiểu bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên, 3 lần nhắc lại với 5 nghiệm thức bón phân gồm _NPK, _N, _P, _K, NPK (ĐC).
Nghiên cứu về nấm và tuyến trùng ảnh hưởng đến bệnh vàng lá và bệnh thối rễ được thực hiện ở Tây Nguyên từ năm 2014 đến năm 2015. Kết quả đã xác định được hai loài tuyến trùng Pratylenchus coffeae và Meloidogyne incognita là tác nhân gây ra hiện tượng vàng lá, thối rễ trên cây cà phê, đặc biệt khi Pratylenchus coffeae > 500 tuyến trùng/ 5 g rễ sẽ gây hiện tượng vàng lá, thối rễ.
Theo Quyết định số 124/QĐ-TTg, ngày 02/02/2012 của Thủ tướng Chínhphủ về việc Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển sản xuất ngành nông nghiệp Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2030, phấn đấu đạt 3 triệu con trâu, 12 triệu con bò và 500 ngàn con bò sữa. Thực tiễn diện tích đồng cỏ rất hạn chế và khó mở rộng ở Việt Nam.
Một trong những thành phần dinh dưỡng quan trọng trong sữa tươi là các axít béo, đặc biệt là axít linoleic liên hợp (CLA (c9, t11). Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng CLA rất quan trọng cho sức khỏe con người vì nó giúp phòng ngừa một số bệnh như ung thư, xơ vữa động mạch, giảm tích mỡ, tăng cường hệ miễn dịch…
Chăn nuôi hữu cơ có nghĩa là động vật có quyền đi lại tự do và không bị hạn chế vào đồng cỏ cũng như các hoạt động ngoài trời và chỉ được cho ăn thức ăn hữu cơ. Sản xuất thực phẩm thịt hữu cơ phải đảm bảo chế biến tự nhiên, lượng vitamin, khoáng chất và chất dinh dưỡng được giữ lại tối đa.
Nghiên cứu ảnh hưởng của phân nano vi lượng bón lá đến năng suất của đậu tương đã được thực hiện tại Đông Nam bộ (Đồng Nai), vụ Hè Thu 2017 và Đồng bằng sông Cửu Long (Vĩnh Long), vụ Xuân Hè 2017. Các thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối đầy đủ hoàn toàn ngẫu nhiên, gồm 11 công thức với 3 lần nhắc lại trên giống đậu tương HLĐN 29.
Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục tiêu đánh giá ảnh hưởng của phân hữu cơ và Kali đến khả năng rửa mặn trong đất cũng như năng suất lúa, trên cơ sở đó đưa ra những khuyến cáo về công thức phân bón phù hợp cho canh tác lúa tại vùng lúa-tôm. Thí nghiệm đồng ruộng được bố trí tại vùng lúa - tôm ở huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng vào vụ Đông Xuân (2015-2016) theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên (RCBD) gồm 3 nghiệm thức và 4 lần lặp lại.
Tiêu là mặt hàng xuất khẩu quan trọng, trong nhiều năm liền, Việt Nam luôn giữ vững được vị trí số một thế giới về sản xuất và xuất khẩu hạt tiêu. Trong số các mặt hàng nông sản chủ lực thì hạt tiêu là nhóm hàng dẫn đầu về tốc độ tăng lượng xuất khẩu cao nhất trong vòng 5 năm gần đây (cao gấp 1,6 lần so với năm 2013). Hiện nay, hạt tiêu của Việt Nam đã có mặt ở hơn 100 thị trường trên thế giới. Mặt hàng hạt tiêu xuất khẩu của Việt Nam tăng cao ở hầu hết các thị trường chủ lực.
Trước nhu cầu bảo vệ môi trường và sức khỏe người tiêu dùng nông sản, nhiều mô hình sản xuất hữu cơ đã hình thành, là một cơ hội đầu tư khởi nghiệp mới cho nhiều doanh nghiệp, tuy rằng trước mắt phải vượt qua nhiều thách thức. Xoài cũng la một mặt hàng quan trọng cần thay đổi cách sản xuất theo hướng hữu cơ nhằm tăng giá trị hàng hóa và phục vụ nhu cầu người tiêu dùng và bảo vệ môi trường.
Kết quả nghiên cứu đã xác định được nguồn vật liệu sử dụng làm bố mẹ chống chịu nóng là N22 và Dular (thang điểm HT là 1, 3). Các dòng, giống cao sản ngắn ngày: TLR391, OM10040, OM8108 và OM4900 có khả năng chống chịu nóng (thang điểm HT là 0-3) có tỷ lệ hạt lép thấp trong điều kiện trỗ bông vào giai đoạn nhiệt độ cao (7,16 – 25%).
Dendrobium Sonia (D.Sonia) là giống lan được trồng phổ biến để lấy hoa cắt cành và hoa chậu bởi đặc điểm ưu trội về hình thái và khả năng ra hoa quanh năm.
a) Mục tiêu nghiên cứu chung: Hoàn thiện qui trình kỹ thuật bón phân cho lan Dendrobium Sonia đạt hiệu quả kinh tế và nông học.
Trong thời gian qua, chính sách, pháp luật đất đai về cơ bản đã được hoàn thiện phù hợp hơn với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đã tạo điều kiện cho người sử dụng đất tập trung, tích tụ đất đai theo quy mô lớn và yên tâm hơn trong việc đầu tư vào đất đai; thực tế đã có nhiều mô hình và phương thức thực hiện bước đầu có hiệu quả, đóng góp tích cực cho việc phát triển sản xuất nông nghiệp của Việt Nam.
Nông nghiệp hữu cơ (NNHC) bắt đầu xuất hiện vào đầu thế kỷ XX và đã trải qua nhiều giai đoạn, bao gồm Hữu cơ 1.0, Hữu cơ 2.0 và Hữu cơ 3.0 đang được phát triển. Hữu cơ 1.0 là giai đoạn hình thành ý tưởng, tầm nhìn về NNHC của những người tiên phong. Hữu cơ 2.0 là thời kỳ tăng trưởng và tiếp thị các sản phẩm hữu cơ. Cuối cùng, Hữu cơ 3.0 tập trung giải quyết những thách thức trong tương lai và nhằm vào việc mở rộng sản xuất NNHC trên phạm vi toàn cầu. Hữu cơ 1.0 được đánh dấu bằng một số khám phá và sự kiện quan trọng vào đầu thế kỷ XX.
Phân bón hữu cơ bao gồm hai nhóm: phân bón hữu cơ truyền thống và phân bón hữu cơ công nghiệp. Phân bón hữu cơ truyền thống là loại phân bón có nguồn gốc từ chất thải của động vật hoặc phế phụ phẩm trồng trọt, chăn nuôi, chế biến nông lâm thủy sản, phân xanh, rác thải hữu cơ, các loại than bùn được chế biến theo phương pháp ủ truyền thống. Trong nhóm này có thể chia thành 5 nhóm nhỏ là: phân chuồng, phân rác, than bùn, phân xanh và phân hữu cơ khác.
55 chủng vi khuẩn được phân lập từ trong rễ cây lúa trồng ở một số tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và huyện Bình Chánh thành phố Hồ Chí Minh. Trong đó, 7 chủng vi khuẩn có khả năng sinh tổng hợp IAA được tiến hành nhuộm Gram, quan sát hình thái và kiểm tra một số phản ứng sinh hóa.
Nền nông nghiệp truyền thống vốn dĩ là nền nông nghiệp hữu cơ (nông nghiệp được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm trồng trọt, chăn nuôi, trồng rừng, bảo vệ rừng tự nhiên, nuôi trồng, khai thác thủy, hải sản). Trải qua chiều dài lịch sử phát triển, dân số ngày một gia tăng, bình quân diện tích đất nông nghiệp theo đầu người của nước ta lại vào loại thấp nhất thế giới, cộng với kỹ thuật sản xuất lạc hậu, nên nền nông nghiệp hữu cơ cho năng xuất thấp, tính trên 1 ha đất nông nghiệp và trên 1 người lao động nông nghiệp, đã không đủ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của con người.
Cây Măng tây (Asparagus) ít sâu bệnh nghiêm trọng gây hại nên có thể trồng không áp dụng thuốc hóa học và trồng theo phương pháp hữu cơ. Cần quản lý cỏ dại tốt, đặc biệt là thời kỳ xây dựng cơ bản. Đó là những điều chủ yếu nhằm sản xuất Măng tây hữu cơ an toàn, thỏa mãn về năng suất và chất lượng. Sản xuất Măng tây hữu cơ giống như sản xuất các loại rau khác, bao gồm phát triển một hệ thống dinh dưỡng phù hợp và quản lý cỏ dại, sâu bệnh có hiệu quả.
Những vấn đề tổng quát quan trọng trong quy trình sản xuất cây cam quýt (CCQ/cây có múi) hữu cơ. Nhằm có giải pháp đảm bảo cho sản xuất CCQ bền vững và có hiệu quả cũng như đảm bảo sản phẩm an toàn, quy tình này giúp các giải pháp kỹ thuật sản xuất theo hướng hữu cơ, thích nghi với điều kiện địa phương. Cây có múi có thể phát triển trong điều kiện khác nhau về đất đai và khí hậu.












