Xuất khẩu cà phê 8 tháng đầu năm 2019 giảm cả lượng, giá và kim ngạch
8 tháng đầu năm 2019, xuất khẩu giảm 11,6% về lượng, giảm 21% về kim ngạch và giảm 10,7% về giá so với cùng kỳ năm 2018.
Thông tin từ Baohaiquan.vn, ông Đỗ Kim Lang, Phó Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại - Bộ Công Thương cũng đánh giá: Việt Nam chủ yếu sản xuất, xuất khẩu cà phê nhân, không đem lại giá trị gia tăng cao. Thế giới biết Việt Nam xuất khẩu cà phê, song thực tế không biết cà phê Việt Nam như thế nào. Một số nhãn hàng như Trung Nguyên, Nguyên Trang… đã tự đem cà phê xuất khẩu tới các thị trường quốc tế, song hầu hết thị trường cũng không mang tầm cạnh tranh đẳng cấp toàn cầu, thậm chí cà phê Việt Nam còn chưa tham gia được vào chuỗi giá trị toàn cầu. Để nâng cao giá trị xuất khẩu cà phê, đảm bảo sự phát triển bền vững cho ngành hàng, nhiều chuyên gia đưa ra quan điểm đồng nhất rằng, trước tiên cần nâng cao chất lượng cà phê ở cả khâu thu hoạch, phơi sấy, phân loại. Theo đó, cần triển khai những biện pháp đồng bộ như thu hút các doanh nghiệp chế biến cà phê đầu tư vào các vùng trồng cây cà phê trọng điểm, tăng cường công tác khuyến nông, khuyến khích người dân áp dụng các kỹ thuật đảm bảo các tiêu chuẩn trong khâu thu hoạch, phơi sấy, phân loại. Chính phủ cần đẩy mạnh thu hút đầu tư từ nước ngoài về vốn, khoa học công nghệ để xây dựng các nhà máy chế biến phục vụ cho xuất khẩu.
Bên cạnh đó, xu hướng người tiêu dùng trên thế giới luôn sử dụng các sản phẩm có thương hiệu và các chỉ dẫn địa lý nên khâu xây dựng thương hiệu cho cà phê Việt Nam là điều không thể lơ là. Cụ thể, cần tích cực đẩy mạnh xây dựng, quảng bá thương hiệu cà phê Việt Nam thành sản phẩm quốc gia trên toàn cầu; khuyến khích phát triển các thương hiệu tư nhân về cà phê để đưa ra thị trường thế giới...
Xuất khẩu cà phê 8 tháng đầu năm 2019
ĐVT: USD
|
Thị trường |
8 tháng đầu năm 2019 |
+/- so với cùng kỳ (%)* |
||
|
Lượng |
Trị giá (USD) |
Lượng |
Trị giá |
|
|
Tổng cộng |
1.173.061 |
2.005.266.767 |
-11,57 |
-21,01 |
|
EU |
519.700 |
832.757.192 |
1,1 |
-11,8 |
|
Đông Nam Á |
138.844 |
275.538.860 |
-25,26 |
-23,03 |
|
Đức |
172.597 |
270.614.339 |
-2,51 |
-15,25 |
|
Mỹ |
105.912 |
176.031.940 |
-18,67 |
-28,92 |
|
Italia |
98.542 |
157.917.583 |
0,59 |
-12,42 |
|
Tây Ban Nha |
91.784 |
146.771.890 |
8,43 |
-4,94 |
|
Philippines |
55.953 |
129.080.064 |
-2,14 |
19,76 |
|
Nga |
61.876 |
116.200.419 |
-0,07 |
-11,09 |
|
Nhật Bản |
66.729 |
113.944.777 |
-10,76 |
-23,69 |
|
Bỉ |
53.436 |
84.242.302 |
7,15 |
-5,49 |
|
Algeria |
47.003 |
75.421.556 |
-6,65 |
-18,36 |
|
Trung Quốc |
26.005 |
58.895.134 |
-6,79 |
-13,62 |
|
Anh |
35.825 |
56.548.526 |
4,45 |
-9,29 |
|
Thái Lan |
30.767 |
51.247.717 |
-29,61 |
-36,57 |
|
Malaysia |
29.935 |
48.374.733 |
24,98 |
2,28 |
|
Hàn Quốc |
21.412 |
41.722.524 |
-2,75 |
-11,7 |
|
Ấn Độ |
26.751 |
40.216.034 |
-34,07 |
-41,71 |
|
Pháp |
25.204 |
38.360.553 |
-3,11 |
-17,76 |
|
Indonesia |
18.612 |
32.125.313 |
-68,78 |
-72,63 |
|
Australia |
13.761 |
24.843.300 |
-12,1 |
-17,01 |
|
Ba Lan |
9.603 |
19.978.376 |
-7,25 |
-20,06 |
|
Bồ Đào Nha |
11.410 |
18.420.317 |
-3,92 |
-14,9 |
|
Hy Lạp |
9.043 |
14.198.858 |
1,53 |
-11,22 |
|
Ai Cập |
7.713 |
12.259.238 |
-25,7 |
-32,25 |
|
Israel |
5.113 |
12.254.677 |
-4,63 |
-15,58 |
|
Hà Lan |
6.986 |
12.149.269 |
-15,22 |
-28,82 |
|
Mexico |
6.659 |
9.953.769 |
-72,4 |
-75,93 |
|
Canada |
4.607 |
8.189.099 |
22,72 |
10,21 |
|
Lào |
1.650 |
7.615.893 |
|
|
|
Ukraine |
3.634 |
7.580.834 |
|
|
|
Chile |
3.055 |
5.357.341 |
|
|
|
Romania |
2.253 |
4.767.790 |
-22,97 |
-46,18 |
|
Hungary |
820 |
4.589.692 |
|
|
|
Myanmar |
914 |
3.602.530 |
|
|
|
Nam Phi |
2.216 |
3.216.083 |
-70,15 |
-75,44 |
|
Phần Lan |
1.439 |
3.035.289 |
|
|
|
Singapore |
571 |
2.002.625 |
-46,18 |
-29,98 |
|
New Zealand |
918 |
1.683.879 |
-47,09 |
-46,91 |
|
Campuchia |
442 |
1.489.985 |
71,32 |
-20,65 |
|
Đan Mạch |
758 |
1.162.408 |
-60,23 |
-66,45 |
(*Tính toán từ số liệu của TCHQ)
Nguồn: VITIC
Thủy Chung - VINANET
Số lần xem: 582












