Kết quả này cho thấy nhu cầu tiêu thụ dầu thực vật trên thị trường thế giới phục hồi mạnh mẽ, trong bối cảnh giá các mặt hàng nguyên liệu đầu vào như dầu cọ và dầu đậu tương duy trì ở mức thuận lợi. Đồng thời, các doanh nghiệp trong nước đã chủ động đẩy mạnh khai thác cả thị trường truyền thống lẫn các thị trường mới, góp phần thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu.

Việt Nam xuất khẩu dầu thực vật sang hơn 40 thị trường trong quý I/2026. Trong đó, Hàn Quốc, Campuchia, Malaysia và Hoa Kỳ là 4 thị trường xuất khẩu dầu thực vật lớn của Việt Nam với kim ngạch xuất khẩu của từng thị trường đạt trên 20 triệu USD và chiếm 79,15% tỷ trọng trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam.

Cơ cấu thị trường xuất khẩu dầu thực vật của Việt Nam đang có xu hướng giảm dần sự phụ thuộc vào một thị trường đơn lẻ, chuyển sang mô hình đa trụ cột hơn, trong đó Hàn Quốc và Malaysia nổi lên là những động lực tăng trưởng quan trọng. Cụ thể:

Quý 1/2026 Hàn Quốc là thị trường dẫn đầu về xuất khẩu dầu thực vật, đạt 71,48 triệu USD, tăng 131,39% so với cùng kỳ năm 2025. Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu dầu thực vật của Việt Nam sang thị trường Hàn Quốc tăng từ 24,98% của quý I/2025 lên 32,07% trong quý I/2026. Trong đó, dầu đậu tương là mặt hàng được xuất khẩu nhiều sang thị trường này.

Campuchia là thị trường xuất khẩu dầu thực vật truyền thống lớn thứ hai của Việt Nam trong quý I/2026, chiếm 24,47% trong tổng kim ngạch xuất khẩu dầu thực vật của Việt Nam, thu hẹp so với mức 35,33% của cùng kỳ năm 2025.

Kim ngạch xuất khẩu mặt hàng dầu thực vật của Việt Nam sang thị trường Campuchia trong quý I/2026 đạt 54,54 triệu USD, tăng 24,85% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, dầu cọ và dầu đậu tương là những mặt hàng được xuất khẩu nhiều sang thị trường này. Các thương hiệu xuất khẩu chính của mặt hàng dầu thực vật sang thị trường Campuchia trong quý I/2026 là Neptune, Coba, Dabaco, Goodmeall, Happi Koki, Kencook, G Cook, Cái Lân, Simply, Meizan, Orchid…

Xuất khẩu dầu thực vật của Việt Nam sang thị trường Malaysia quý I/2026 đạt 27,85 triệu USD, tăng 192,41% so với cùng kỳ năm 2025, chiếm 12,5% tổng kim ngạch xuất khẩu dầu thực vật của Việt Nam, mở rộng so với mức 7,7% của cùng kỳ năm 2025.

Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu dầu thực vật lớn thứ tư của Việt Nam trong quý I/2026, với 22,55 triệu USD, tăng 55,17% so với cùng kỳ năm 2025, chiếm 10,12%% tổng kim ngạch xuất khẩu dầu thực vật của Việt Nam, thu hẹp so với mức 11,75% của cùng kỳ năm 2025. Trong đó, dầu dừa là mặt hàng được xuất khẩu nhiều sang thị trường này. Các thương hiệu xuất khẩu chính của mặt hàng dầu thực vật sang thị trường Hoa Kỳ trong quý I/2026 là Cocogoods, Good & Gather, …

Xuất khẩu dầu thực vật của Việt Nam trong quý I/2026 sang một số thị trường như Lào, Nhật Bản, Philippines, Thái Lan và Indonesia giảm so với cùng kỳ năm 2025. Nguyên nhân chủ yếu đến từ áp lực cạnh tranh gia tăng trong khu vực, sự thay đổi về nhu cầu nhập khẩu, cũng như tác động của biến động giá trên thị trường thế giới.

Thị trường xuất khẩu dầu thực vật của Việt Nam quý I/2026

Thị trường

Qúy I/2026 (Nghìn USD)

So với quý I/2025 (%)

Tỷ trọng (%)

Qúy I/2026

Qúy I/2025

Tổng

222.875,60

80,25

100,00

100,00

Hàn Quốc

71.482,48

131,39

32,07

24,98

Campuchia

54.536,47

24,85

24,47

35,33

Malaysia

27.848,41

192,41

12,50

7,70

Hoa Kỳ

22.548,32

55,17

10,12

11,75

Hà Lan

6.875,77

3.062,29

3,09

0,18

Italy

6.435,00

2,89

Lào

5.409,58

-3,69

2,43

4,54

Nhật Bản

5.355,81

-12,66

2,40

4,96

Tây Ban Nha

3.689,22

1.545,50

1,66

0,18

Canada

3.664,77

2,85

1,64

2,88

Ấn Độ

3.661,87

5.874,89

1,64

0,05

Trung Quốc

2.621,04

87,29

1,18

1,13

Papua New Guinea

1.963,25

815,96

0,88

0,17

Philippines

1.909,70

-24,99

0,86

2,06

Australia

649,24

25,99

0,29

0,42

Mông Cổ

637,34

134,77

0,29

0,22

Anh

636,30

9,02

0,29

0,47

Bangladesh

597,25

0,27

Na Uy

469,00

258,05

0,21

0,11

New Zealand

426,85

-17,85

0,19

0,42

Thái Lan

329,59

-63,94

0,15

0,74

Hồng Kông

293,65

0,13

Đài Loan

284,08

3,01

0,13

0,22

Madagascar

217,53

101,45

0,10

0,09

Indonesia

122,64

-34,99

0,06

0,15

Pakistan

60,79

0,03

Pêru

44,64

0,02

Nga

44,23

22,51

0,02

0,03

Ba Lan

31,54

84,24

0,01

0,01

CH Séc

5,00

-93,69

0,002

0,06

Đức

4,84

-69,49

0,002

0,01

Ai Len

3,50

0,002

Singapore

3,49

0,002

Micronesia (Federated State)

3,36

0,002

Tớc cơ và Cai cốt

2,56

0,001

Đảo Solomon

1,92

0,001

Vanuatu

1,80

0,001

Palau

1,54

0,001

Barbados

0,72

0,0003

Đan Mạch

0,50

0,0002

Phương Thúy - Vinanet/VITIC