Đánh giá khả năng dự báo mưa hạn mùa cho Việt Nam bằng các mô hình khí hậu khu vực

Ngày cập nhật: 26 tháng 10 2018
Chia sẻ

Nhằm mục tiêu chỉ ra được khả năng dự báo mưa hạn mùa bằng các mô hình khí hậu khu vực cho Việt Nam, bên cạnh đó là nâng cao khả năng đánh giá được vai trò của việc cập nhật độ ẩm đất cũng như các sợ đồ tham số hóa vật lý trong việc cải thiện chất lượng dự báo mưa của các mô hình, và cuối cùng là xây dựng được các phương pháp hiệu chỉnh sản phẩm mưa dự báo của mô hình và chỉ ra được hiệu quả của chúng. GS. TS. Phan Văn Tân thuộc ĐH KHTN Hà Nội cùng các cộng sự đã hoàn thành để tài “Đánh giá khả năng dự báo mưa hạn mùa cho Việt Nam bằng các mô hình khí hậu khu vực” và đạt được toàn bộ các mục tiêu đề ra ban đầu.

 


Bằng cách sử dụng số liệu tái phân tích làm điều kiện biên cho các mô hình khí hậu khu vực (RCM), thực hiện các thí nghiệm độ nhạy đối với sở đồ tham số hóa vật ly, độ phân giải,…, đánh giá kỹ năng của RCM, xây dựng số liệu khí hậu mô hình. Kết hợp với chạy dự báo RCM trong các trường hợp có và không cập nhật độ ẩm đất với số liệu dự báo mùa toàn cầu, phân tích, đánh giá sai số. Xây dựng các phương pháp hiệu chỉnh sai số và đánh giá hiệu quả của chúng.

Kết quả khoa học của đề tài này đã được một số tờ tạp chí nổi tiếng về thời tiết đăng tải, điển hình như “Tạp chí Khoa học ĐHQGHN”, “Tạp chí Climate Research”. Sau đây xin được liệt kê những kết quả khoa học chính của đề tài:

1) Đánh giá khả năng dự báo mưa hạn mùa cho Việt Nam bằng mô hình khí hậu khu vực. Kết quả này nhận được trên cơ sở thực hiện việc chạy mô hình khí hậu khu vực RegCM và clWRF khi sử dụng sản phẩm dự báo toàn cầu NCEP-CFS làm điều kiện ban đầu và điều kiện biên. Thời gian thử nghiệm là 3 năm, từ 2012-2014, với hạn dự báo 6 tháng.
 
2) Đánh giá khả năng ứng dụng sản của mô hình NCEP-CFS vào dự báo mưa hạn mùa cho Việt Nam. Kết quả nhận được cho thấy CFS cho dự báo lượng mưa tháng khá phù hợp với quan trắc trên các vùng khi hậu phía Bắc và Nam Bộ Việt Nam trong khi đó lại cho sai số khá lớn trên các vùng khí hậu Trung Bộ và Tây Nguyên. Sai số dự báo biến động ít theo hạn dự báo nhưng lại khác biệt đáng kể giữa các tháng được dự báo.
 
3) Đánh giá khả năng dự báo hạn mùa ngày bắt đầu mùa mưa ở Tây Nguyên. Đề tài đã tiến hành thử nghiệm và nhận được những kết quả bước đầu đầy triển vọng. Tây Nguyên và Nam Bộ là những vùng có chế độ mưa điển hình của gió mùa Nam Á với hai mùa tương phản rõ rệt là mùa khô và mùa mưa. Dự báo được thời điểm bắt đầu mùa mưa có một ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với sản xuất mà còn liên quan đến nhu cầu sử dụng nước nói chung của người dân.
 
4) Nghiên cứu cơ chế gây mưa ở Việt Nam. Sự xuất hiện của các sóng khí quyển có thể gây nên những dị thường mưa lớn do chúng tạo nên sự hội tụ ẩm trong tầng đối lưu, ảnh hưởng mạnh đến độ dày của dòng gió mùa và độ đứt gió thẳng đứng. Kết quả nghiên cứu này mở ra một hướng mới về dự báo hạn nội mùa các đợt khô và ẩm ướt trên khu vực nghiên cứu.

Một vấn đề khác cũng đã được hình thành ngay trong quá trình thực hiện đề tài, đó là khảo sát cơ chế gây mưa và tính có thể dự báo được đối với đợt mưa kỷ lục xảy ra vào cuối tháng 7 đến đầu tháng 8 năm 2018 ở Quảng Ninh. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng, đợt mưa lớn nói trên có liên quan đến sự tồn tại một rãnh thấp cận nhiệt đới trên cao di chuyển chậm gắn với một vùng áp thấp trên vịnh Bắc Bộ mà đó là nguyên nhân thúc đẩy và duy trì sự hội tụ độ ẩm và đối lưu trên khu vực đông bắc Việt Nam.

 

Đ.T.N - NASATI.

Số lần xem: 1009

Đơn vị thành viên
Liên kết đối tác

Viện Khoa Học Kỹ Thuật Nông Nghiệp Miền Nam
Địa chỉ: 121 Nguyễn Bỉnh Khiêm, P. Tân Định, TP.HCM
Điện thoại: 028. 38234076 –  38228371
Website : http://iasvn.org - Email: iasvn@vnn.vn