Chiều 14/5, tại Hà Nội, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp chủ trì buổi làm việc với Ban Chỉ đạo, Tổ biên tập về tiến độ và nội dung Đề án “Phát triển nguồn nhân lực ngành nông nghiệp và môi trường đến năm 2030, tầm nhìn 2045”.

Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp yêu cầu Đề án phát triển nguồn nhân lực ngành phải xác định rõ điểm nghẽn, dự báo nhu cầu tương lai và đề xuất giải pháp đột phá. Ảnh: Trường Giang.
Tại cuộc họp, Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp nhấn mạnh, phạm vi Đề án rất rộng, liên quan từ nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp đến cơ quan quản lý, chuyên gia, nhà khoa học.
Theo Thứ trưởng, Đề án tiếp cận theo hướng tập trung giải quyết các “điểm nghẽn” của ngành thay vì chỉ dừng ở nội dung đào tạo. Đề án phải xác định rõ nguồn nhân lực ngành là gì, thiếu ở đâu, yếu ở đâu và cần giải quyết vấn đề gì trong bối cảnh phát triển mới. “Không phải cứ nói đến phát triển nguồn nhân lực là nói đến đào tạo. Quan trọng là phải xác định được những điểm yếu, điểm thiếu của ngành để có giải pháp tháo gỡ”, Thứ trưởng nhấn mạnh.
Thứ trưởng cũng cho rằng, Đề án phải gắn với xu thế phát triển tương lai của ngành nông nghiệp và môi trường, đặc biệt trong bối cảnh khoa học công nghệ, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo ngày càng thay đổi mạnh phương thức sản xuất và quản trị. Ngay cả lao động sản xuất trực tiếp cũng sẽ khác trước khi công nghệ được ứng dụng sâu rộng.
Từ đó, cần làm rõ nên đào tạo chuyên sâu hay đào tạo theo nhiệm vụ, nhất là khi tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp đi vào vận hành. Đồng thời, Đề án phải đề xuất được chính sách khuyến khích đào tạo, phát triển thị trường lao động và cơ chế bảo đảm thu nhập để người lao động sống được bằng nghề.
Đóng góp ý kiến tại cuộc họp, GS.TS Phạm Văn Điển - Phó Giám đốc Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam - cho rằng, vấn đề lớn nhất hiện nay không phải số lượng mà là chất lượng nguồn nhân lực và năng lực đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh của ngành.
Theo ông Điển, Đề án cần chỉ rõ trong tương lai ngành cần những năng lực gì, yếu ở đâu và tác động ra sao để có giải pháp tháo gỡ hiệu quả. Đồng thời, cần xây dựng “bản đồ nhân lực” gồm hiện trạng nhân lực, nhu cầu đến năm 2030 và bản đồ so sánh để cập nhật thường xuyên.
Đại diện Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường TP Hồ Chí Minh cho rằng, trong khi chiến lược phát triển đất nước giai đoạn tới rất cần nguồn nhân lực lĩnh vực tài nguyên và môi trường thì số lượng thí sinh vào học tại một số lĩnh vực này lại giảm mạnh. Vì vậy, Đề án cần có cơ chế, giải pháp thu hút người học để đáp ứng nhu cầu thực tiễn.

Các ý kiến từ trường đại học, viện nghiên cứu cũng cho thấy yêu cầu cấp thiết phải xây dựng “bản đồ nhân lực” của ngành, dự báo xu hướng phát triển và nhu cầu nhân lực dài hạn. Ảnh: Trường Giang.
Trong khi đó, đại diện Viện Khoa học Khí tượng thủy văn, môi trường và biển đề xuất bổ sung cơ chế đột phá về đổi mới sáng tạo, cơ chế đặc thù để giữ chân nhân lực chất lượng cao, đồng thời tăng cường đội ngũ cán bộ đa nhiệm phù hợp mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.
Đại diện Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội cho rằng, cần quan tâm cả số lượng và chất lượng nguồn nhân lực, đẩy mạnh đào tạo lại, nâng cao năng lực đội ngũ, đồng thời có cơ chế thu hút nhân lực chất lượng cao cho các lĩnh vực trọng điểm của ngành.
Kết luận cuộc họp, Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp yêu cầu cơ quan soạn thảo tiếp thu đầy đủ các ý kiến của thành viên Ban soạn thảo để hoàn thiện Đề án. Theo Thứ trưởng, khó khăn lớn nhất hiện nay là hầu hết các nhóm đối tượng đều đã có chương trình, đề án riêng của Chính phủ và các bộ, ngành đã và đang triển khai.
Thứ trưởng yêu cầu Đề án phải đánh giá đầy đủ thực trạng nguồn nhân lực theo các nghị quyết, chiến lược của Đảng và Nhà nước; đồng thời dự báo xu thế phát triển của ngành, tác động của khoa học công nghệ để xác định nhu cầu nhân lực trong tương lai.
Thứ trưởng cũng lưu ý, Đề án cần làm rõ định hướng đào tạo nguồn nhân lực trong bối cảnh tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp sẽ được triển khai. Theo Thứ trưởng, cần nghiên cứu lựa chọn giữa đào tạo chuyên sâu theo lĩnh vực hay đào tạo theo hướng đa nhiệm, gắn với yêu cầu thực hiện nhiệm vụ tại địa phương.
Trên cơ sở đó, Đề án cần xác định rõ những điểm nghẽn then chốt, đề xuất giải pháp đột phá, phát triển nguồn nhân lực chiến lược, ưu tiên cơ chế trọng dụng, thu hút và giữ chân nhân tài; đồng thời phân công rõ trách nhiệm của từng bộ, ngành, các đơn vị trong tổ chức thực hiện.












