Cuộc chuyển dịch này được thúc đẩy bởi áp lực ngày càng gay gắt từ biến đổi khí hậu, các cam kết Net Zero đến năm 2050 của hầu hết các nền kinh tế lớn, nhu cầu đảm bảo an ninh lương thực trong bối cảnh dân số toàn cầu tăng và tài nguyên đất đai ngày càng hạn chế, cùng với sự bùng nổ của công nghệ sinh học, tổng hợp sinh học và trí tuệ nhân tạo.
Đồng thời, các doanh nghiệp và chính phủ đang chịu sức ép mạnh mẽ phải xây dựng chuỗi cung ứng bền vững, giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch nhập khẩu và tăng cường tự chủ chiến lược về nguyên liệu. Kinh tế sinh học không còn chỉ là khái niệm học thuật mà đã trở thành trụ cột trung tâm của tăng trưởng xanh, tạo việc làm và bảo vệ hệ sinh thái.
Tác giả (áo véc, hàng trên) ký kết ghi nhớ họp tác cây dược liệu Ngọc Nữ Trắng với Công ty Hamdard Laboratoies, Ấn Độ.
Theo World Bioeconomy Forum và phân tích của Boston Consulting Group, giá trị kinh tế sinh học toàn cầu hiện đạt khoảng 4-5 nghìn tỷ USD và có tiềm năng tăng lên 30 nghìn tỷ USD vào năm 2050 – tương đương khoảng một phần ba GDP toàn cầu. Các quốc gia và khối đi đầu đã nhanh chóng hoàn thiện chiến lược quốc gia và khu vực về kinh tế sinh học. Điển hình, Liên minh châu Âu đã chính thức công bố Khung chiến lược mới về Kinh tế sinh học cạnh tranh và bền vững vào ngày 27/11/2025. Chiến lược này đặt mục tiêu biến EU thành trung tâm dẫn dắt toàn cầu trong việc thay thế vật liệu và sản phẩm dựa trên hóa thạch bằng các giải pháp sinh học, tập trung vào quy mô công nghiệp, mở rộng thị trường, cạnh tranh và khả năng chống chịu. EU bioeconomy hiện đã đạt giá trị khoảng 2,7 nghìn tỷ euro năm 2023 và tạo việc làm cho hơn 17 triệu người (khoảng 8% việc làm của khối). Chiến lược mới đề xuất thành lập Liên minh Bio-based Europe nhằm huy động cam kết mua sắm 10 tỷ euro sản phẩm sinh học đến năm 2030, đồng thời đẩy mạnh đầu tư, đơn giản hóa thủ tục phê duyệt và xây dựng thị trường dẫn dắt cho vật liệu sinh học.
Trên diễn đàn đa phương, G20 tiếp tục duy trì và củng cố Sáng kiến Kinh tế Sinh học với Bộ Nguyên tắc Cấp cao gồm 10 nguyên tắc tự nguyện, được thông qua dưới sự chủ trì của Brazil năm 2024 và tiếp tục được thúc đẩy dưới các nhiệm kỳ tiếp theo. Các nguyên tắc này nhấn mạnh sự tích hợp phát triển bền vững trên cả ba trụ cột kinh tế – xã hội – môi trường, bảo đảm an ninh lương thực, bao trùm và công bằng (bao gồm quyền của người bản địa và cộng đồng địa phương), giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo tồn đa dạng sinh học, sử dụng tuần hoàn tài nguyên sinh học, cùng với đổi mới khoa học – công nghệ có trách nhiệm. Các nguyên tắc này đang dần trở thành khung tham chiếu chung cho các quốc gia khi xây dựng chính sách kinh tế sinh học quốc gia.
Mô hình Sâm Ngọc Linh ở HTX sâm Quảng Nam.
FAO cùng các tổ chức quốc tế đang tích cực thúc đẩy các quan hệ đối tác đa bên về kinh tế sinh học phục vụ nông nghiệp và hệ thống lương thực bền vững. FAO đã nâng kinh tế sinh học thành ưu tiên chiến lược trong Khung Chiến lược 2022-2031 và tiếp tục mở rộng danh mục dự án trong giai đoạn 2024-2027, tập trung vào dữ liệu – kiến thức, đối tác, sự gắn kết chính sách và triển khai đổi mới trên thực địa. Các sáng kiến gần đây bao gồm việc thúc đẩy quan hệ đối tác toàn cầu đa bên về kinh tế sinh học cho hệ thống nông thực phẩm bền vững, hợp tác với các tổ chức khu vực như ACTO tại Amazon, cũng như hỗ trợ các quốc gia xây dựng chiến lược quốc gia.
Những nỗ lực này phản ánh sự đồng thuận ngày càng rõ nét rằng kinh tế sinh học là một trong những đòn bẩy quan trọng nhất để vừa đạt mục tiêu khí hậu, vừa đảm bảo an ninh lương thực và tạo động lực tăng trưởng mới cho thế kỷ 21. Theo Grand View Research, thị trường tế bào gốc toàn cầu năm 2024 đạt 15,1 tỷ USD, dự kiến năm 2025 khoảng 16,8 tỷ USD, và tăng lên 28,9 tỷ USD vào năm 2030 (CAGR ~11,4%). Tại Hà Lan, ứng dụng công nghệ sinh học trong nhân giống và sản xuất, giá trị xuất khẩu toàn bộ giống và hoa, cây cảnh thương mại khoảng 12,3 tỷ euro năm 2025 (≈ 13-13,5 tỷ USD). Hà Lan kiểm soát khoảng 50-60% thương mại hoa cắt cành trên thế giới.
Trung Quốc và Ấn Độ là một trong những quốc gia có truyền thống nghiên cứu và phát triển dược liệu lâu đời và lớn nhất thế giới, năm 2025 ngành dược liệu của Trung Quốc có quy mô khoảng 150-160 tỷ USD. Tại Ấn Độ điển hình là Dabur India Limited, được ghi nhận là doanh nghiệp dược liệu lớn nhất Ấn Độ, với lịch sử hơn 140 năm hình thành và phát triển, sản phẩm chủ lực dựa trên thảo dược, chiếm khoảng 80% tổng doanh thu dược liệu Ấn Độ, công ty hoạt động tại hơn 120 quốc gia, doanh thu năm 2025 đạt 1,38 tỷ USD.
Việt Nam sở hữu lợi thế tự nhiên vượt trội về tài nguyên sinh học với hệ sinh thái đa dạng bậc nhất khu vực, bao gồm rừng nhiệt đới, hệ thống sông ngòi, biển và đất nông nghiệp phong phú. Đây là nền tảng quan trọng để phát triển các chuỗi giá trị dựa trên sinh khối, từ nông sản, dược liệu, nguyên liệu sinh học đến dịch vụ hệ sinh thái. Lợi thế này không chỉ hỗ trợ sản xuất nông nghiệp truyền thống mà còn mở ra tiềm năng lớn cho chế biến sâu, vật liệu sinh học, năng lượng sinh học và các sản phẩm có hàm lượng khoa học – công nghệ cao, phù hợp với xu hướng chuyển dịch toàn cầu sang nền kinh tế dựa trên tài nguyên tái tạo.
Làm sạch rong nho của Công ty Rong biển DT Khánh Hòa.
Nền nông nghiệp Việt Nam đã khẳng định vị thế xuất khẩu mạnh mẽ trên trường quốc tế. Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu nông – lâm – thủy sản đạt trên 70 tỷ USD, vượt mục tiêu đề ra và tiếp tục duy trì đà tăng trưởng. Mục tiêu đưa kim ngạch lên 100 tỷ USD vào năm 2027 đang được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, đòi hỏi chuyển đổi mạnh mẽ sang mô hình tăng trưởng dựa trên giá trị gia tăng, truy xuất nguồn gốc, chế biến sâu và liên kết chuỗi. Đây là dư địa lớn để tích hợp kinh tế sinh học, biến lợi thế nguyên liệu thô thành sản phẩm sinh học có thương hiệu và giá trị cao hơn.
Định hướng chính sách của Đảng và Nhà nước đã tạo hành lang thuận lợi cho phát triển khoa học – công nghệ và các lĩnh vực liên quan. Công nghệ sinh học được xác định là một trong những công nghệ chiến lược quốc gia. Nghị quyết 36-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam thuộc nhóm 10 quốc gia dẫn đầu châu Á về công nghệ sinh học; đến năm 2045 trở thành quốc gia có nền công nghệ sinh học phát triển, với tỷ trọng đóng góp vào GDP đạt 10-15%. Các đề án phát triển công nghiệp sinh học trong lĩnh vực Công Thương và các nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược (bao gồm giống mới, vaccine, chế phẩm sinh học, liệu pháp tế bào…) đang được triển khai đồng bộ, tạo nền tảng cho việc mở rộng sang kinh tế sinh học toàn diện.
Cùng với đó, Việt Nam đang đẩy mạnh chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn và phát triển thị trường carbon, tạo điều kiện để gắn kết nông nghiệp – lâm nghiệp – công nghiệp với các mục tiêu giảm phát thải và bảo tồn đa dạng sinh học. Sự kết hợp giữa lợi thế tài nguyên, năng lực xuất khẩu và định hướng chính sách rõ ràng đang mở ra cơ hội lớn để Việt Nam không chỉ tham gia mà còn trở thành mắt xích quan trọng trong chuỗi giá trị kinh tế sinh học khu vực và toàn cầu.
Ở Việt Nam hiện nay cũng có nhiều địa phương và doanh nghiệp ứng dụng công nghệ sinh học, tạo ra doanh thu rất lớn có tầm cỡ khu vực và quốc tế, điển hình như: tỉnh Lâm Đồng là thủ phủ nhân giống in vitro của cả nước, đạt quy mô hơn 74 triệu cây/năm, trong đó xuất khẩu khoảng 40% với giá trị khoảng 10,5-11 triệu USD. Mô hình của Dabaco (DBC) là chuỗi giá trị khép kín 3F (Feed – Farm – Food), kết hợp mạnh mẽ kinh tế tuần hoàn và công nghệ sinh học trong chăn nuôi, doanh thu năm 2025 đạt ~14.900 tỷ đồng. Công ty cổ phần sinh học Rừng hoa Đà Lạt, ứng dụng mô hình khép kín nhân giống invitro, mỗi năm nhân giống 20 triệu cây, kết hợp sản xuất cây giống và và du lịch canh nông, với diện tích chỉ 9.000 m2 năm 2025 doanh thu đạt 140 tỷ đồng; mô hình trồng sâm Ngọc Linh ở HTX Bảo tồn và phát triển sâm Ngọc Linh Quảng Nam, sâm sau trồng 7 năm thu hoạch, có doanh thu 50 tỷ đồng/ha; DT Group - Rong biển DT Khánh Hòa, là công ty lớn nhất cả nước về sản xuất rong nho Nhật Bản, với gần 100 ha mặt nước nuôi trồng, doanh thu từ rong nho khoảng 40-50 tỷ đồng/năm.
Tuy nhiên, đến nay Việt Nam chủ yếu tập trung đầu tư và định hướng vào công nghệ sinh học, công nghiệp sinh học và kinh tế xanh, chưa xây dựng một chiến lược quốc gia toàn diện về kinh tế sinh học theo đúng nghĩa. Tỷ lệ thương mại hóa kết quả nghiên cứu còn thấp, chuỗi giá trị còn manh mún, thị trường tín chỉ carbon và bio-credit chưa phát triển mạnh, nguồn nhân lực chuyên sâu còn hạn chế. Trong bối cảnh thế giới đang đẩy mạnh kinh tế sinh học như một trụ cột của tăng trưởng xanh và tự chủ chiến lược, việc xác định và phát triển kinh tế sinh học trở thành yêu cầu tất yếu, phù hợp với xu thế thời đại và lợi thế đặc thù của Việt Nam.
Trên cơ sở quá trình nghiên cứu khoa học nhiều năm liên tục và suốt quá trình chỉ đạo sản xuất, chúng tôi đưa ra khái niệm:
Kinh tế sinh học là nền kinh tế dựa trên việc khai thác, sử dụng, tái tạo và phát triển bền vững các nguồn tài nguyên sinh học; kết hợp tri thức, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số nhằm tạo ra các sản phẩm, dịch vụ và mô hình kinh doanh có giá trị gia tăng cao, thúc đẩy tăng trưởng xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn, giảm phụ thuộc vào tài nguyên hóa thạch, bảo tồn đa dạng sinh học, thích ứng với biến đổi khí hậu và hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng "0" (Net Zero).
Có thể nói, Việt Nam đang đứng trước thời cơ lịch sử để chuyển hóa lợi thế tài nguyên sinh học dồi dào thành động lực tăng trưởng bền vững của nền kinh tế. Việc phát triển kinh tế sinh học không còn là lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu tất yếu nếu muốn duy trì vị thế xuất khẩu nông – lâm – thủy sản và đạt mục tiêu 100 tỷ USD vào năm 2027. Chỉ khi tích hợp tri thức khoa học – công nghệ vào toàn bộ chuỗi giá trị từ nguyên liệu đến sản phẩm cuối cùng, đất nước mới từng bước nâng tầm từ xuất khẩu nguyên liệu sang các sản phẩm sinh học mang thương hiệu và giá trị cao hơn. Kinh tế sinh học chính là cầu nối giữa lợi thế tự nhiên và mô hình phát triển xanh, giúp bảo tồn hệ sinh thái đồng thời tạo ra giá trị kinh tế bền vững. Đây là con đường quan trọng để Việt Nam khẳng định vị thế trong kỷ nguyên kinh tế tái tạo và đảm bảo sự thịnh vượng lâu dài cho thế hệ mai sau.
TS Phạm S (theo nongnghiepmoitruong.vn)
(xem tin bài gốc tại: https://nongnghiepmoitruong.vn/tri-thuc-nong-dan/kinh-te-sinh-hoc-la-xu-the-cua-thoi-dai-d824415.html)












