Giải pháp để không tuột mất cơ hội vàng và phát triển bền vững ngành bò sữa

Ngày cập nhật: 22 tháng 8 2025
Chia sẻ

Những năm qua, chăn nuôi bò sữa Việt Nam quy mô còn nhỏ lẻ, không tự chủ được nguồn nguyên liệu trong nước. Do đó, trong chiến lược phát triển ngành sữa giai đoạn tới, cần có các giải pháp để không tuột mất cơ hội vàng đối với sự phát triển bền vững.


Chiến lược phát triển ngành chăn nuôi là đến năm 2025 tổng đàn bò sữa phải đạt khoảng 500.000 con

Cảnh báo sụt giảm chăn nuôi bò sữa

Theo Hội Chăn nuôi Việt Nam, đàn bò sữa trong nước, sau một giai đoạn tăng trưởng mạnh ở mức 2 con số 15,4%/năm giai đoạn 2010 – 2015, đã giảm xuống rất nhanh, chỉ còn 1,9%/năm trong giai đoạn 2015-2020 và còn 0,4%/năm giai đoạn 2020-2024. Sự suy giảm này dẫn tới không đạt được mục tiêu của Chiến lược phát triển ngành chăn nuôi là đến năm 2025 tổng đàn bò sữa phải đạt khoảng 500.000 con (thực tế hiện nay mới chỉ đạt được khoảng 330.000 con, bằng 65%). Nếu không có sự điều chỉnh kịp thời thì đến năm 2030, tổng đàn bò sữa cả nước không thể đạt được mục tiêu kế hoạch là 650.000-670.000 con.

Tương tự như đàn bò, tốc độ tăng trưởng về sản lượng sữa tươi nguyên liệu cũng giảm nhanh, từ 17,7%/năm giai đoạn 2010-2015, xuống còn 6,7%/năm giai đoạn 2015-2020 và chỉ còn 3,3%/năm giai đoạn 2020-2024. Nêu không có sự điều chỉnh kịp thời, thì đến năm 2030 không thể đạt được mục tiêu kế hoạch 2,6-2,8 triệu tấn sữa tươi, đảm bảo 25-26 kg sữa/người và chủ trương tự túc được 60% nguyên liệu cho ngành công nghiệp sữa cũng không thể thành hiện thực.

Ngược lại với 2 chỉ tiêu trên, năng suất sữa của đàn bò trong nước tăng nhanh, từ trung bình khoảng 5 tấn/con/chu kỳ trong giai đoạn 2010-2015, đã lên trên 7 tấn/con/chu kỳ trong giai đoạn 2020-2024, là tốc độ tăng rất nhanh mà không phải nước nào cũng làm được. Với năng suất sữa trung bình toàn đàn như trên, đã đưa Việt Nam trở thành nước có năng suất bò sữa cao nhất trong khu vực.

TS. Nguyễn Xuân Dương, Chủ tịch Hiệp hội chăn nuôi Việt Nam cho rằng, vấn đề đàn bò sữa của khu vực chăn nuôi nông hộ đang giảm nhanh, rất cần được tổng kết đánh giá nghiêm túc, để tìm ra giải pháp khôi phục đàn bò sữa ở khu vực này. Vì Việt Nam cần phát triển đàn bò sữa theo 2 phương thức, mới có thể duy trì được quy mô đàn bò và thị phần sữa trong nước, đó là: Nuôi tập trung thâm canh cao như các tập đoàn có tiềm năng lớn đang làm, và phát triển chăn nuôi trong các nông hộ chuyên nghiệp với quy mô giao động từ 20-100 con/hộ, lý tưởng là từ 30-50con/hộ, sẽ rất có hiệu quả, do tận dụng được nguồn lao động chăm chỉ trong nông thôn và nguồn phụ phẩm rất đa dạng trong nông nghiệp, công nghiệp chế biến của Việt Nam mà không phải nước nào cũng có.

Vấn đề quản lý sản xuất kinh doanh sữa và sản phẩm từ sữa của nước ta phải được xem xét, đánh giá lại một cách bài bản và trách nhiệm cho lâu dài, đảm bảo tạo điều kiện thuận lợi nhất cho họat động sản xuất, kinh doanh của người dân, doanh nghiệp, nhưng đây là lĩnh vực kinh doanh không chỉ tôn trọng pháp luật, mà rất cần tới đạo đức, trách nhiệm cộng đồng với người tiêu dùng và người chăn nuôi trong nước, đối tượng yếu thế nhất trong chuỗi sản phẩm hàng hóa đặc biệt này.

Khả năng tự chủ nguồn nguyên liệu sữa tươi của Việt Nam

Với mục tiêu phấn đấu, từ sau năm 2030 trở đi, Việt Nam có thể tự chủ được khoảng 60% nguồn nguyên liệu sữa tươi cho ngành công nghiệp sữa, để đến năm 2045 có thể đưa sản lượng sữa các loại/người của Việt Nam, đạt khoảng 100 kg/người/năm.

Những chỉ tiêu này hoàn toàn có thể trở thành hiện thực bởi không gian chăn nuôi và thị trường sữa của Việt Nam còn rất rộng lớn. So với các nước có nền chăn nuôi bò sữa phát triển và các nước có điều kiện tương đồng, thì không gian chăn nuôi bò và gia súc cho sữa của Việt Nam còn rất lớn. Quy mô đàn bò và gia súc cho sữa của nước ta hiện nay chưa tương xứng với điều kiện tự nhiên, tiềm năng lao động, khả năng đầu tư và thị trường tiêu thụ các loại sữa, sản phẩm từ sữa.


Mục tiêu phấn đấu từ sau năm 2030 trở đi, Việt Nam có thể tự chủ được khoảng 60% nguồn nguyên liệu sữa tươi cho ngành công nghiệp sữa.

Số lượng bò sữa bình quân/1.000 người dân của Việt Nam còn quá thấp: 3,3 con/1000 người, chỉ bằng 1/3 so với Thái Lan, Nhật Bản; gần bằng ½ so với Hàn Quốc; bằng ¼ so với Isael và chỉ bằng 1/26 so với Hà Lan. Rõ ràng là quy mô đàn bò sữa của Việt Nam là chưa tương xứng với tiềm năng của nước ta. Nếu xét về điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội, thì Việt Nam hiện nay có không gian chăn nuôi gia súc cho sữa lớn hơn Nhật Bản và Isael. Chúng ta hoàn toàn có thể đưa được đàn bò sữa lên gấp 4 – 5 lần so với con số hiện nay trong những năm 2030, nghĩa là khi đó đàn bò sữa trong nước có thể đạt từ 1,3-1,5 triệu con và sản lượng sữa tươi nguyên liệu có thể đạt từ 4,3 – 5,0 triệu tấn.

Đề xuất chiến lược phát triển ngành sữa Việt Nam tầm nhìn 2030–2045, ông Ngô Minh Hải- Chủ tịch HĐQT tập đoàn TH cho rằng, nhìn lại con số tăng trưởng ngành sữa tươi nguyên liệu trong gần 2 thập kỷ qua cho thấy: Từ mức tiêu thụ bình quân đầu người năm 2008 là 12 lít, tỷ trọng sữa tươi nguyên liệu trong sản phẩm sữa dạng lỏng 8%, đến giữa năm 2025 các tỷ lệ trên tương ứng 36 lít và 60%.

Nếu nâng mục tiêu tăng trưởng kép 2 con số trong 5 năm tới lên 18%, Việt Nam kỳ vọng vào năm 2030, sữa dạng lỏng với thành phần từ sữa tươi nguyên liệu sẽ thay thế hoàn toàn sữa hoàn nguyên.

Mục tiêu tới năm 2035: Với mức tăng tưởng tiêu dùng sữa 4%, lượng tiêu thụ sữa bình quân đầu người khoảng 54 lít/ người/năm, chủ động được trên 70% sữa tươi nguyên liệu cho sản xuất tiêu thụ trong nước (hiện đang là 40%).

TS. Nguyễn Xuân Dương cho rằng, việc chưa thể tận dụng hết toàn bộ dư địa phát triển của ngành sữa là do còn tồn tại những "nút thắt" lớn. Trong đó, nhận thức tiêu dùng của người dân còn mơ hồ, chưa đầy đủ về giá trị dinh dưỡng của sữa. Nhiều nước bán sữa tươi ngang giá nước uống và dùng hằng ngày, nhưng ở Việt Nam vẫn còn tranh cãi về việc "nên hay không nên" sử dụng sữa thường xuyên.

Ngoài ra, việc quản lý sữa nhập khẩu còn bất cập, gây bất lợi cho sản xuất trong nước. Các tập đoàn như TH, Vinamilk, NutiFood... vẫn phải tự nuôi bò để đỡ ngành, trong khi một bộ phận doanh nghiệp nhỏ không mặn mà thu mua sữa tươi nội địa.

Mặt khác, chi phí và chính sách cũng là "nút thắt" đối với sản xuất sữa trong nước. Giá thành sữa chăn nuôi, chế biến đang ở ngưỡng cao do chính sách chưa phù hợp. Mới đây, các hiệp hội (trong đó có Hội Chăn nuôi Việt Nam, Hiệp hội Sữa Việt Nam) đã kiến nghị giảm chi phí tuân thủ, như công bố hợp quy và các khoản không cần thiết để hạ giá thành, kể cả chi phí vô hình.

TS. Nguyễn Xuân Dương cho rằng, trong chiến lược phát triển ngành sữa giai đoạn tới, phải nhìn nhận được những tồn tại nêu trên, có phương án xử lý nếu không sẽ tuột mất cơ hội vàng đối với sự phát triển bền vững.

Giải pháp phát triển bền vững ngành chăn nuôi bò sữa

Từ những vấn đề trên, Hội Chăn nuôi Việt Nam vừa có công văn gửi Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Y tế, kiến nghị các giải pháp nhằm phát triển nguồn nguyên liệu sữa trong nước, giảm lệ thuộc vào nhập khẩu, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ngành chăn nuôi bò sữa và cung ứng sản phẩm cho thị trường.

Theo Hội Chăn nuôi Việt Nam, ngành chăn nuôi không chỉ đảm bảo an ninh dinh dưỡng cho đất nước, mà còn là sinh kế của hàng chục triệu người nông dân. Đây không chỉ là đặc thù, mà còn là lợi thế của nông nghiệp Việt Nam, nếu chúng ta biết khai thác hợp lý vấn đề này. Cụ thể, chương trình phát triển chăn nuôi bò sữa giai đoạn 2000 – 2020 đã chứng minh, Việt Nam hoàn toàn có thể phát triển được ngành chăn nuôi và chế biến sữa từ nguồn nguyên liệu trong nước bằng phương thức và cách làm riêng.


Với tốc độ tăng trưởng đàn bò hứa hẹn Việt Nam sẽ có ngành công nghiệp sữa phát triển nhanh, bền vững trong khu vực.

Sự kết hợp hài hòa giữa chăn nuôi tập trung ở các công ty lớn và chăn nuôi chuyên nghiệp trong các nông hộ đã đưa tốc độ tăng trưởng đàn bò, sản lượng sữa tươi của Việt Nam liên tục ở mức cao, với hai con số/năm, đứng đầu các nước trong khu vực, đạt được đa mục tiêu: cung cấp các sản phẩm sữa tươi chất lượng cao cho người tiêu dùng và hỗ trợ tích cực cho sự phát triển của ngành chăn nuôi trong nước, hứa hẹn Việt Nam sẽ có ngành công nghiệp sữa phát triển nhanh, bền vững trong khu vực.

Tuy nhiên, những năm gần đây, do thị trường sữa Việt Nam phát triển quá nóng, bùng nổ quá nhiều thương hiệu, sản phẩm sữa và từ sữa trên thị trường, nguyên liệu sữa nhập khẩu “ồ ạt” gây nhiễu loạn thị trường, áp đảo nguồn nguyên liệu trong nước, dẫn đến thực trạng là người tiêu dùng không biết lựa chọn sản phẩm sữa nào phù hợp và nguy hại hơn là tốc độ tăng trưởng của đàn bò sữa trong nước, dẫn đến thức trạng là người tiêu dùng không biết lựa chọn sản phẩm sữa nào phù hợp và nguy hại hơn là tốc độ tăng trưởng của đàn bò sữa trong nước giảm sút rất nhanh, nhất là đàn bò trong khu vực chăn nuôi nông hộ, nhiều vùng chăn nuôi bò sữa truyền thống đang trên đà phá sản, như TP Hồ Chí Minh, Ba Vì, Mộc Châu…riêng đàn bò sữa của TP Hồ Chí Minh giảm trên 50%

Hệ quả là ngành sữa nội địa đứng trước nguy cơ không đáp ứng được mục tiêu chiến lược dinh dưỡng quốc gia. Đáng lo ngại hơn, phụ thuộc nhập khẩu kéo dài sẽ khiến Việt Nam dễ tổn thương trước rủi ro thị trường quốc tế, ảnh hưởng trực tiếp đến hàng chục triệu hộ tiêu dùng. Do đó, việc phát triển bền vững ngành sữa không chỉ góp phần giảm nhập khẩu, đảm bảo an ninh dinh dưỡng quốc gia, mà còn nâng cao thu nhập cho người nông dân, thúc đẩy hiện đại hóa nông nghiệp.

Để Việt Nam thực sự có ngành sữa phát triển bền vững, như mục tiêu của Chiến lược phát triển ngành sữa Việt Nam thời kỳ 2025 – 2030, tầm nhìn 2045 được Bộ Công Thương hoàn thiện trình Thủ tướng Chính phủ, Hội Chăn nuôi Việt Nam gửi kiến nghị đề nghị các Bộ liên quan cần thống nhất quan điểm và giải pháp phát triển ngành sữa Việt Nam.

Theo đó, cần tập trung phát triển ngành sữa Việt Nam phải phát huy được những lợi thế trong nước, nhất là nguồn sữa tươi và nguyên liệu, phụ gia phong phú của ngành nông nghiệp nhiệt đới trong nước; hạn chế thấp nhất việc nhập khẩu các loại nguyên liệu mà trong nước có thể sản xuất được.

Cần phát triển chương trình dinh dưỡng (chương trình sữa) học đường bằng các sản phẩm sữa tươi, như kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới đã làm rất thành công, vừa giúp trẻ em có được nguồn dinh dưỡng tốt nhất, vừa thúc đẩy ngành chăn nuôi trong nước phát triển. Tiềm năng chăn nuôi gia súc cho sữa của Việt Nam, hoàn toàn đáp ứng được yêu cầu này.

Cần hoàn thiện các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quy định minh bạch, rõ ràng, dễ phân biệt các sản phẩm sữa và từ sữa, nhất là giữa sữa tươi với sữa nước, để người tiêu dùng biết trong lựa chọn sử dụng và người sản xuất, kinh doanh, cơ quan quản lý thực hiện.

Đưa quy định, bắt buộc các cơ sở sản xuất, kinh doanh sữa phải có vùng hoặc gắn với vùng nguyên liệu sữa nguyên liệu trong nước, hoặc phải sử dụng tối thiểu bao nhiêu % nguyên liệu sữa tươi trong nước (thường là từ 5-20%). Vì sữa tươi có lợi cho người tiêu dùng, nhưng ít lợi nhuận nhất đối với người kinh doanh, nên không chỉ các quốc gia có ngành sản xuất sữa phát triển, mà ngay ở các nước kém phát triển trong khu vực như Ấn Độ, Indonesia, Philippines, Thái Lan, Trung Quốc cũng đều có quy định này. Ví dụ, Philippines tại Đạo luật Cộng hòa số 7884 về phát triển ngành sữa quốc gia năm 1995, Mục 17 quy định, các nhà chế biến, kinh doanh sữa thương mại phải mua tối thiểu 5% nguồn nguyên liệu sữa tươi trong nước. Doanh nghiệp mua vượt mức 5% sẽ được hưởng khoản tín dụng, thuế ưu đãi 10% giá trị của phần mua vượt mức này.

Hội Chăn nuôi Việt Nam đề nghị Bộ trưởng Bộ Công thương, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Y tế có ý kiến chỉ đạo các cơ quan chức năng, thống nhất quan điểm và giải pháp toàn diện ngành sữa Việt Nam trong quá trình xây dựng Chiến lược và chính sách, pháp luật thực hiện Chiến lược ngành sữa Việt Nam, phát triển vì mục tiêu cao cả nhất cho sức khỏe cộng đồng và sản xuất trong nước.

Xu hướng tiêu dùng xanh và tận dụng các FTA

Thứ trưởng Bộ Công Thương Trương Thanh Hoài nhận định, trong bối cảnh hội nhập sâu rộng với nhiều FTA thế hệ mới như CPTPP, EVFTA…, ngành sữa Việt Nam đang đứng trước những cơ hội lớn để mở rộng thị trường và nâng cao năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, bên cạnh cơ hội là những thách thức về cạnh tranh với các doanh nghiệp sữa nước ngoài ngay trên sân nhà. Vì vậy, “Chiến lược phát triển ngành sữa giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” đóng vai trò then chốt, giúp định hướng doanh nghiệp nội địa xây dựng hướng đi sáng tạo, bền vững.


Việc hợp tác quốc tế sâu rộng, tận dụng hiệu quả các hiệp định thương mại tự do (FTA) và xu hướng tiêu dùng xanh - bền vững được xác định là đòn bẩy quan trọng trong phát triển ngành bò sữa và thị trường sữa.

Dự báo, quy mô thị trường sữa Việt Nam sẽ đạt khoảng 4,59 tỷ USD vào năm 2025, với tốc độ tăng trưởng kép (CAGR) 8,21%/năm trong giai đoạn 2025-2030. Đây là tín hiệu cho thấy tiềm năng phát triển ổn định và bền vững của ngành sữa trong tương lai, nếu tận dụng tốt các cơ hội từ thị trường và chính sách hỗ trợ từ Nhà nước.

Thứ trưởng Bộ Công Thương Trương Thanh Hoài cho biết, trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, yêu cầu đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất, chất lượng và an toàn thực phẩm ngày càng khắt khe, ngành sữa Việt Nam đứng trước cả cơ hội bứt phá lẫn sức ép cạnh tranh.

Để đạt mục tiêu đến năm 2030 và tầm nhìn 2045, tăng mức tự chủ nguồn nguyên liệu trong nước, nâng tiêu dùng sữa bình quân đầu người, ông Trương Thanh Hoài cho rằng cần triển khai chiến lược phát triển đồng bộ từ vùng nguyên liệu, công nghệ chế biến, logistics đến phân phối; đồng thời hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm thu hút đầu tư, khuyến khích đổi mới sáng tạo, thúc đẩy liên kết chuỗi giá trị.

Việc hợp tác quốc tế sâu rộng, tận dụng hiệu quả các hiệp định thương mại tự do (FTA) và xu hướng tiêu dùng xanh - bền vững cũng được xác định là đòn bẩy quan trọng.

Ngành sữa là một trong những ngành hàng thực phẩm thiết yếu, gắn trực tiếp với sức khỏe, tầm vóc và thể chất, trí lực của người Việt Nam. Không chỉ đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng trong nước, ngành sữa còn mang ý nghĩa chiến lược trong phát triển nông nghiệp bền vững, công nghiệp chế biến thực phẩm hiện đại, và nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Trước xu thế phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế, cùng với việc Việt Nam tham gia các Hiệp định thương mại tự do, trong đó có một số Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP, EVFTA,... sẽ tạo nhiều cơ hội mới cho doanh nghiệp ngành sữa của chúng ta phát triển mạnh mẽ; các sản phẩm của ngành sữa có cơ hội lớn xuất khẩu và mở rộng ra các thị trường quốc tế.

"Song bên cạnh những cơ hội là những thách thức mới cho sự phát triển của các doanh nghiệp ngành sữa Việt Nam như sức ép cạnh tranh từ các doanh nghiệp nước ngoài, sự thay đổi về thị hiếu và thói quen tiêu dùng với sản phẩm sạch, sản phẩm hữu cơ, sản phẩm sữa có công thức mới...", Thứ trưởng Trương Thanh Hoài nhận định./.

Thanh Tâm - KTNT

Số lần xem: 73

Đơn vị thành viên
Liên kết đối tác

Viện Khoa Học Kỹ Thuật Nông Nghiệp Miền Nam
Địa chỉ: 121 Nguyễn Bỉnh Khiêm, P. Tân Định, TP.HCM
Điện thoại: 028. 38234076 –  38228371
Website : http://iasvn.org - Email: iasvn@vnn.vn