Không chỉ đo "nhiều hay ít"
Nature Index là một hệ thống đánh giá năng lực nghiên cứu khoa học của các quốc gia và tổ chức, được xây dựng dựa trên các công bố từ 145 tạp chí khoa học tự nhiên và y sinh có uy tín học thuật do một hội đồng các nhà khoa học độc lập lựa chọn.
Chỉ số này sử dụng hai đại lượng chính: số bài báo mà các nhà nghiên cứu của một quốc gia hay tổ chức nghiên cứu tham gia (Count); và mức độ đóng góp (Share) của tác giả từ quốc gia hay tổ chức nghiên cứu đó trong mỗi bài báo. Một công bố có các tác giả từ càng nhiều tổ chức nghiên cứu thì phần đóng góp của mỗi bên càng bị chia nhỏ.
Nếu một trường có chỉ số Count cao nhưng Share thấp, thì nghĩa là các nhà nghiên cứu của trường phần lớn tham gia vào các siêu hợp tác quốc tế (mega-collaborations với hàng chục hoặc hàng trăm tác giả), hoặc chỉ đóng vai trò phụ trong các nghiên cứu do các nhà khoa học nước ngoài "cầm trịch".
Ngược lại, Share cao chứng tỏ nhóm nghiên cứu của trường giữ vai trò nòng cốt, độc lập và có thực lực thực sự trong việc tạo ra các công bố đỉnh cao.
Vì vậy, Nature Index không chỉ đo "nhiều hay ít", mà còn giúp đo chất lượng và mức độ tham gia thực sự trong các công bố quốc tế.

Chỉ số đóng góp của các nhà khoa học Việt Nam trong các công bố quốc tế liên tục được cải thiện. Ảnh: Chụp màn hình từ Nature Index
Theo dữ liệu mới nhất (tương ứng với khung thời gian 1/1 - 31/12/2025), Việt Nam hiện nằm trong nhóm khoảng 40-50 quốc gia có đóng góp khoa học lớn nhất toàn cầu; với những lĩnh vực nổi bật nhất gồm vật lý, hóa học, và khoa học sức khỏe. Ở những lĩnh vực này, đóng góp trung bình của nhà nghiên cứu Việt Nam trong mỗi bài báo lần lượt vào khoảng 36%, 28%, và 19%.
Mặc dù vị trí của Việt Nam trong Nature Index được cải thiện, những kết quả trên phản ánh quy mô nghiên cứu trong nước còn nhỏ vì mức đóng góp thực chất còn thấp. Nói cách khác, các nhóm nghiên cứu trong nước chưa đủ mạnh để đóng vai trò dẫn dắt trong các công trình khoa học quốc tế mà vẫn còn phụ thuộc nhiều vào hợp tác quốc tế, chủ yếu là Mỹ, Anh, Úc, Trung Quốc.
Việc quan sát dữ liệu công bố quốc tế từ lăng kính hợp tác quốc tế chính là mảnh ghép giúp hình dung thêm bức tranh về nội lực nghiên cứu của Việt Nam, đồng thời gợi mở nhiều điểm cốt lõi trong quản trị và chiến lược phát triển giáo dục đại học.
Sự bứt phá của khối đại học tư thục
Điểm nổi bật nhất từ bảng dữ liệu là sự áp đảo của hai trường đại học tư thục.

TS Trương Thanh Tùng, Đại học Phenikaa, được cấp bằng sáng chế quốc tế cho dẫn chất benzothiazole có khả năng điều trị ung thư trúng đích. Ảnh: LTPA
Trong đó, Đại học Phenikaa - vị trí số 1 - có tỷ lệ Share/Count rất cao - 8.20 trên 22 bài. Con số này tương đương với đóng góp trung bình của các nhà nghiên cứu ở Đại học Phenikaa trong các bài báo quốc tế chiếm hơn 37%.
Đây là năm thứ 6 liên tiếp Phenikaa dẫn đầu Nature Index Việt Nam. Điều này minh chứng cho việc họ có những nhóm nghiên cứu - ví dụ trong lĩnh vực Vật lý, Hóa học vật liệu - có khả năng làm việc độc lập, tự dẫn dắt các nghiên cứu và đăng trên các tạp chí uy tín bằng chính nguồn lực tại chỗ, thay vì chỉ "dựa hơi" đối tác nước ngoài.
Đại học Duy Tân - vị trí số 2 - cũng thể hiện xu hướng tương tự với tỷ lệ Share/Count là 5.24 trên 19 bài, tương đương gần 28%.
Sự trỗi dậy của hai trường tư thục gợi ý rằng chiến lược mời gọi các nhà khoa học xuất sắc về làm việc toàn thời gian và đầu tư cơ sở vật chất mạnh tay đang mang lại hiệu quả lớn về mặt "nội lực".
Đóng góp thực chất vào các công bố
Khi đối chiếu chỉ số của các đại học, viện nghiên cứu công lập lớn, ta thấy một nghịch lý đáng suy ngẫm về hợp tác quốc tế.
|
Viện/Trường |
Count |
Share |
|
1. ĐH Phenikaa |
22 |
8.20 |
|
2. ĐH Duy Tân |
19 |
5.24 |
|
3. Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam |
21 |
3.88 |
|
4. ĐH Bách khoa Hà Nội |
6 |
1.77 |
|
5. ĐH Y Dược TP. HCM |
13 |
1.75 |
|
6. Bệnh viện Mỹ Đức |
3 |
1.59 |
|
7. ĐH Quốc gia Hà Nội |
25 |
1.17 |
|
8. Bệnh viện Bệnh nhiệt đới |
15 |
1.07 |
|
9. Trường ĐH Công nghệ Đồng Nai |
1 |
1.00 |
|
10. ĐH Quốc gia TP. HCM |
3 |
0.84 |
Top 10 viện nghiên cứu, trường đại học xét theo tỷ lệ đóng góp (Share). Tổng cộng có 45 viện/trường Việt Nam được Nature Index xếp hạng. Nguồn: Nature Index.
Đại học Quốc gia Hà Nội (VNU) nổi bật với số lượng bài báo nhiều nhất, với 25 bài, nhưng chỉ số đóng góp thực tế lại còn khiêm tốn, chỉ số Share = 1.17, đứng thứ 7. Với chỉ số Share và Count như vậy, đóng góp của tác giả VNU chỉ chiếm chưa đến 5% - để dễ hình dung, nếu một nghiên cứu có 20 tác giả tham gia thì VNU có một người.
Điều này cho thấy vai trò độc lập của các nhà khoa học từ VNU trong các mạng lưới nghiên cứu quốc tế lớn còn khá mờ nhạt - mặc dù VNU đứng thứ 158 châu Á trong QS Rankings 2026, đồng thời nhiều năm liên tiếp đứng đầu xếp hạng đại học Việt Nam (VNUR).
Đây là câu hỏi chiến lược quan trọng cho một trường đại học: ưu tiên có mặt trong các consortium quốc tế lớn để tăng điểm Count và uy tín danh nghĩa, hay đầu tư xây dựng nhóm nghiên cứu mạnh tự chủ để tăng đóng góp thực chất đo bằng điểm Share?
Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VAST), cơ sở nghiên cứu đầu ngành của cả nước, có 21 bài nhưng Share cũng còn khiêm tốn, với 3.88. Tỷ lệ 18.5% cho thấy đóng góp của tác giả Việt Nam bị hạn chế và VAST còn phụ thuộc nhiều vào mạng lưới hợp tác với nước ngoài để có công bố trên các tạp chí uy tín theo lựa chọn Nature Index.
Dù hội nhập là cần thiết, nhưng sự phụ thuộc này cho thấy các cơ sở giáo dục vẫn đang thiếu những "tổng công trình sư" - hay các nhà nghiên cứu đủ sức dẫn dắt toàn diện các dự án nghiên cứu khoa học đỉnh cao.
''Tương lai của khoa học Việt Nam nằm ở việc xây dựng nội lực thực chất, nuôi dưỡng các nhóm nghiên cứu mạnh trong nước có khả năng tự đặt vấn đề, tự giải quyết và công bố quốc tế độc lập.
— Trần Đức Viên












