Thay đổi chiến lược “ăn xổi”, ngành hồ tiêu tiến đến kỷ lục mới

Ngày cập nhật: 04 tháng 8 2025
Chia sẻ

Ngành tiêu đang chuyển biến mạnh mẽ từ sản xuất hạt tiêu đại trà sang phát triển sản phẩm bền vững, chất lượng cao để hội nhập sâu thị trường quốc tế. Hiệp hội Hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam đã đưa ra dự báo, xuất khẩu hạt tiêu sẽ vươn đến con số giá trị kỷ lục mới, nhiều khả năng thiết lập mốc 1,5 tỷ USD.

Hồ tiêu là một trong những ngành hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. 

Thay đổi chiến lược “ăn xổi”

Theo Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam (VPA), nửa đầu năm 2025, thị trường hồ tiêu trong nước chứng kiến nhiều đợt tăng giá mạnh. Cuối tháng 6, giá hạt tiêu trong nước dao động khoảng 128.000 - 133.000 đồng/kg, nhưng chỉ trong vài ngày đầu tháng 7 đã bật tăng lên 136.000 - 150.000 đồng/kg, chạm đỉnh gần 150.000 đồng/kg tại một số địa phương. Sang tuần thứ hai của tháng 7, giá có điều chỉnh nhẹ nhưng vẫn duy trì ở mức khá cao, khoảng 138.000 - 142.000 đồng/kg.

Theo các sàn giao dịch nông sản và doanh nghiệp thu mua, nguyên nhân chính của đợt biến động giá đến từ nguồn cung hạn chế do nhiều nông hộ giữ hàng, chờ giá tốt hơn, trong khi nhu cầu xuất khẩu vẫn ổn định và có tín hiệu tích cực từ các thị trường chủ lực như Mỹ, EU và Ấn Độ.

Hồ tiêu là một trong những ngành hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Từ năm 2001, Việt Nam đã vươn lên vị trí nước xuất khẩu hồ tiêu lớn nhất thế giới, hiện cung cấp trên 60% sản lượng giao dịch toàn cầu.

Theo số liệu của Cục Hải quan, trong 6 tháng đầu năm 2025, xuất khẩu hồ tiêu tiếp tục tăng trưởng cả về lượng lẫn giá trị. Tính đến hết tháng 6/2025, Việt Nam đã xuất khẩu được 124.133 tấn hồ tiêu các loại, trong đó tiêu đen đạt 105.939 tấn, tiêu trắng đạt 18.194 tấn. Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 850,5 triệu USD, tiêu đen đạt 704,1 triệu USD, tiêu trắng đạt 146,4 triệu USD. So với cùng kỳ năm ngoái, lượng xuất khẩu giảm 12,9%, tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu tăng 34,1%. Đây là tín hiệu lạc quan cho ngành nông sản vốn được xem là trụ cột trong chiến lược xuất khẩu nông nghiệp của Việt Nam.

Tuy giá trị có tăng, nhưng điều đáng chú ý là phần lớn hồ tiêu xuất khẩu vẫn ở dạng thô hoặc chỉ qua sơ chế cơ bản (làm sạch, phân loại, phơi sấy). Tỷ lệ hồ tiêu chế biến sâu (xay, nghiền, phối trộn gia vị, đóng gói nhãn hiệu riêng) còn khiêm tốn. Theo VPA, trong năm 2023, nhóm sản phẩm chế biến sâu chiếm khoảng 30% tổng giá trị xuất khẩu, tăng so với mức 20 - 25% vài năm trước, nhưng vẫn chưa tương xứng tiềm năng.

Ông Hoàng Phước Bình, Phó Chủ tịch Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam cho rằng, xuất khẩu tiêu thô đem lại lợi ích trước mắt vì dễ tiêu thụ, vốn đầu tư chế biến không lớn. Tuy nhiên, đây là chiến lược “ăn xổi” dễ dẫn đến mất giá trị lớn trong chuỗi cung ứng. Tiêu thô thường bán giá rẻ hơn 20-30% so với sản phẩm chế biến sâu. Chúng ta bán nguyên liệu rẻ, trong khi doanh nghiệp nước ngoài chế biến và bán lại với giá cao gấp nhiều lần. Đó là thất thoát lớn về giá trị gia tăng.

Hiện tại, nhu cầu thị trường thế giới đang thay đổi mạnh. Các khách hàng tại Mỹ, EU, Nhật Bản ngày càng ưu tiên hồ tiêu đã qua chế biến sâu, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, có chứng nhận và truy xuất nguồn gốc. Một số nước thậm chí không còn nhập tiêu thô chưa xử lý.

Doanh nghiệp chủ động nâng tỷ lệ chế biến sâu

Một số doanh nghiệp Việt Nam đã đầu tư mạnh để thay đổi. Điển hình như Phúc Sinh Group với nhà máy xay nghiền và đóng gói đạt tiêu chuẩn xuất Mỹ, châu Âu. Olam Việt Nam, Nedspice Việt Nam cũng xây dựng dây chuyền chế biến hiện đại, xuất khẩu tiêu nghiền mịn, phối trộn gia vị theo yêu cầu khách hàng.

Theo đại diện Công ty Phúc Sinh, mỗi tấn tiêu chế biến sâu có thể bán giá cao hơn 15-30% so với tiêu thô, tùy thị trường. Đồng thời, doanh nghiệp ký được hợp đồng dài hạn, ổn định hơn. Khách hàng châu Âu không chỉ mua hạt tiêu, họ muốn thành phẩm đã xay, đóng gói, truy xuất nguồn gốc rõ ràng. Làm được điều đó, chúng tôi không chỉ bán giá cao hơn mà còn giữ khách hàng lâu dài.

Theo thống kê sơ bộ, chưa tới 1/3 tổng lượng tiêu xuất khẩu của Việt Nam là sản phẩm chế biến sâu.

Dù vậy, những doanh nghiệp như vậy vẫn chưa nhiều. Theo thống kê sơ bộ, chưa tới 1/3 tổng lượng tiêu xuất khẩu của Việt Nam là sản phẩm chế biến sâu. Phần lớn vẫn là tiêu đen, tiêu trắng sơ chế, đóng bao xuất thô.

Việc tăng tỷ lệ chế biến sâu không dễ dàng. Các doanh nghiệp chỉ ra nhiều thách thức: đầu tư máy móc, công nghệ, đạt chứng nhận quốc tế cần vốn lớn; quy mô sản xuất manh mún; nông dân chưa tuân thủ chặt quy trình canh tác an toàn.

Ông Hoàng Phước Bình, Phó Chủ tịch Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam nhấn mạnh, muốn bán được giá cao phải sản xuất sạch, đồng nhất chất lượng, truy xuất nguồn gốc minh bạch. Không thể trộn lẫn tiêu nhiều nguồn rồi xuất đi như trước. Nếu Việt Nam không nhanh chóng chuyển đổi, sẽ bị mất thị phần vào các đối thủ mới nổi như Brazil, Indonesia là những nước đang đẩy mạnh đầu tư chế biến sâu, bán thành phẩm, xây dựng thương hiệu riêng.

Theo đại diện Bộ Nông nghiệp và Môi trường, chiến lược phát triển hồ tiêu Việt Nam đến 2030 đặt mục tiêu giảm mạnh xuất thô, nâng tỷ lệ chế biến sâu lên ít nhất 50% vào năm 2030. Đây là hướng đi tất yếu nhằm tăng giá trị xuất khẩu, nâng cao thu nhập cho nông dân và giảm phụ thuộc vào cạnh tranh giá rẻ.

Chuẩn hóa vùng nguyên liệu, đầu tư chế biến, phát triển thương hiệu Việt

Ông Nguyễn Nam Hải, Chủ tịch Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam khuyến nghị, doanh nghiệp cần bắt tay với nông dân xây dựng vùng nguyên liệu chuẩn hóa, đầu tư chế biến, phát triển thương hiệu Việt. Chỉ khi bán được giá trị gia tăng cao hơn thì mới thực sự phát triển bền vững.

Hồ tiêu tiếp tục là mặt hàng xuất khẩu chủ lực, đem về hàng trăm triệu USD mỗi năm cho Việt Nam. Nhưng để giữ vững và mở rộng thị phần quốc tế trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt, ngành hồ tiêu cần giảm mạnh xuất khẩu thô, đẩy mạnh chế biến sâu, phát triển thương hiệu và nâng cao chất lượng sản phẩm.

Doanh nghiệp cần bắt tay với nông dân xây dựng vùng nguyên liệu chuẩn hóa, đầu tư chế biến, phát triển thương hiệu Việt

Chuyển từ “xuất khẩu sản phẩm thô” sang “chế biến sâu” không chỉ là nhu cầu thị trường, mà còn là điều kiện sống còn để ngành hồ tiêu Việt Nam phát triển bền vững và xứng tầm vai trò dẫn đầu thế giới.

Thiết lập mốc kỷ lục mới

Hiệp hội Hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam thông tin, tính đến hết tháng 6/2025, Việt Nam đã xuất khẩu được 124.133 tấn hồ tiêu các loại, trong đó tiêu đen đạt 105.939 tấn, tiêu trắng đạt 18.194 tấn.

Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 850,5 triệu USD, tiêu đen đạt 704,1 triệu USD, tiêu trắng đạt 146,4 triệu USD. So với cùng kỳ năm ngoái lượng xuất khẩu giảm 12,9%, tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu tăng 34,1%.

Giá xuất khẩu bình quân tiêu đen 6 tháng đạt 6.665 USD/tấn, tăng 93,6% và tiêu trắng đạt 8.079 USD/tấn, tăng 63,0% so với cùng kỳ năm 2024.

Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của hồ tiêu Việt Nam chiếm 23,6% đạt 24.979 tấn, tuy nhiên so cùng kỳ giảm 29,4%. Tiếp theo là các thị trường: Ấn Độ: 7.768 tấn, UAE: 7.700 tấn, Trung Quốc: 6.610 tấn và Đức: 4.836 tấn.

Các doanh nghiệp xuất khẩu hàng đầu bao gồm: Olam Việt Nam: 12.388 tấn, chiếm 10% thị phần xuất khẩu và giảm 6,7% so với cùng kỳ. Tiếp theo là các doanh nghiệp: Nedspice Việt Nam: 10.604 tấn, Phúc Sinh: 10.232 tấn, Trân Châu: 6.624 tấn va Haprosimex JSC: 6.460 tấn.

Đầu năm nay, Hiệp hội Hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam đã đưa ra dự báo, xuất khẩu hạt tiêu sẽ vươn đến con số giá trị kỷ lục mới, nhiều khả năng thiết lập được mốc kỷ lục 1,5 tỷ USD.

Ở chiều ngược lại, Việt Nam đã nhập khẩu 28.296 tấn hồ tiêu, tổng kim ngạch nhập khẩu đạt 174,1 triệu USD, tiêu đen đạt 23.537 tấn, tiêu trắng đạt 4.759 tấn. So với cùng kỳ năm trước lượng nhập khẩu tăng 57,2%, kim ngạch tăng 150,1%.

Brazil, Campuchia và Indonesia là 3 quốc gia cung cấp hồ tiêu lớn nhất cho Việt Nam lần lượt đạt: 14.904 tấn, 6.257 tấn và 5.574 tấn. Trong khi đó, các doanh nghiệp nhập khẩu chủ yếu bao gồm: Olam Việt Nam: 6.433 tấn, Trân Châu: 2.524 tấn và Nedspice Việt Nam: 1.809 tấn.

Nhiều tỉnh trồng tiêu trọng điểm của Việt Nam đang chứng minh là điểm sáng với chiến lược phát triển hạt tiêu sạch, gắn với tiêu chuẩn quốc tế và bảo vệ môi trường sinh thái.

Ngành tiêu đang chuyển biến mạnh mẽ từ sản xuất hạt tiêu đại trà sang phát triển sản phẩm bền vững, chất lượng cao để hội nhập sâu thị trường quốc tế.

Trước những áp lực từ biến đổi khí hậu, dịch bệnh và chi phí sản xuất, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã xây dựng đề án Phát triển cây hạt tiêu bền vững đến năm 2030. Mục tiêu của đề án là đến năm 2030, có ít nhất 40% diện tích hạt tiêu đạt tiêu chuẩn GAP hoặc tương đương và khoảng 50% diện tích được cấp mã số vùng trồng.

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, chi phí đầu vào gia tăng và các rào cản kỹ thuật từ thị trường xuất khẩu ngày càng khắt khe, ngành hạt tiêu Việt Nam đang đứng trước ngã rẽ lớn. Đó là, chuyển từ sản xuất đại trà sang phát triển bền vững, chất lượng cao.

Trong tiến trình đó, nhiều tỉnh trồng tiêu trọng điểm của Việt Nam đang chứng minh là điểm sáng với chiến lược phát triển hạt tiêu sạch, gắn với tiêu chuẩn quốc tế và bảo vệ môi trường sinh thái. Nhiều tỉnh đang ưu tiên áp dụng các tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP, hữu cơ; đi đúng hướng trong phát triển hạt tiêu sạch không chỉ để duy trì sản lượng mà quan trọng hơn là tạo dựng giá trị bền vững, thân thiện môi trường và phù hợp với yêu cầu hội nhập quốc tế./.

Thanh Tâm- KTNT

Số lần xem: 69

Đơn vị thành viên
Liên kết đối tác

Viện Khoa Học Kỹ Thuật Nông Nghiệp Miền Nam
Địa chỉ: 121 Nguyễn Bỉnh Khiêm, P. Tân Định, TP.HCM
Điện thoại: 028. 38234076 –  38228371
Website : http://iasvn.org - Email: iasvn@vnn.vn