Tuần tin khoa học 999 (6-12/7/2026)

Ngày cập nhật: 08 tháng 7 2026
Chia sẻ

Sự điều hòa tín hiệu ROS ở quy mô nano tại màng plasma điều khiển phản ứng của cây với stress khô hạn

PNAS (1): Màng tế bào không chỉ đơn thuần là những rào chắn mà còn  là những nền tảng rất năng động điều hòa được sự chuyên biệt của đường truyền tín hiệu. Trong bài này, tác giả khám phá ra cách thức tế bào thực vật sử dụng cơ quan màng membrane ở quy mô nano để định hình nồng độ H2O2 khu trú trong khi có stress khô hạn xảy ra (osmotic stress). Sử dụng cảm biến sinh học H2O2 mã hóa theo di truyền nhằm đích đến các domains có kích thước nono của ROP6, tác giả tìm thấy cấu hình của ngoại cảnh bị oxy hóa ở mức độ nano tại khu vực màng plasma của tế bào. Các domains như vậy tùy thuộc vào hoạt động cộng tác với nhau giữa men NADPH oxidases RBOHs và aquaporin PIP2;7, chúng cho phép sự khuếch tán H2O2 qua màng tế bào. Quan trọng là, H2O2 tại chỗ tăng cường sự tập họp nhóm ROP6, làm nên một vòng phản hồi xuôi chiều (feedforward loop) từ đó, làm tăng thêm việc sinh ra ROS và giúp tế bào tiếp tục tăng trưởng cho dù bị stress khô hạn. Nghiên cứu này nhấn mạnh làm thế nào sự ghép cặp theo không gian của những chùm protein với một gradien có tính chất ô xi hóa khử có thể cho phép cây  hoàn thiện được sự chuyên biệt của chúng về tín hiệu, thu nhận được một mô phỏng về truyền tín hiệu ROS có tính chất bị giới hạn bởi màng chuyên biệt.

Trong thực vật, reactive oxygen species (ROS: gốc ô xi tự do), đặc biệt là hydrogen peroxide (H2O2), hoạt động như  phân tử chính của truyền tín hiệu khi phản ứng với tác nhân kích hoạt từ môi trường ví dụ stress khô hạn. Tuy nhiên, làm thế nào H2O2 ngoại bào ảnh hưởng sự truyền tín hiệu nội bào vẫn chưa được biết rõ. Tác giả chỏ ra rằng chính sự kích thích của co dãn nguyên sinh đã kích hoạt  sự hình thành tại chỗ, trong môi trường có kích thước nona rất giàu H2O2 ở bề mặt tế bào chất của màng membrane (PM) trong tế bào rễ cây Arabidopsis. Sử dụng cảm biến sinh học gắn với màng sinh chất (PM-tethered H2O2 biosensor), các tác giả thấy rằng năng nanodomains bị ô xi hóa nảy lên từ sự phân cụm của RESPIRATORY BURST OXIDASE HOMOLOGs (RBOHs) và RHO OF PLANTS 6 (ROP6), phối hợp với sự vận chuyển của aquaporin-mediated H2O2 đi qua PLASMA MEMBRANE INTRINSIC PROTEIN2;7 (PIP2;7). Những điểm nóng có tính chất ô xi khử tại chỗ như vậy tại PM đã sản sinh ra một “feedforward loop” (vòng phản hồi xuôi chiều) tại đó, H2O2 làm tăng sự phân nhóm nano ROP6, do đó, khuếch đại lên gốc ô xi tự do. Sự gián đoạn quá trình sản xuất H2O2 hoặc sự vận chuyển làm giảm cả ROP6 clustering và làm giảm sự giãn nổ tế bào không đẳng hướng, cho thấy vai trò quan trọng của truyền tín hiệu redox theo không gian khi điều hòa cây tăng trưởng dưới điều kiện stress thẩm thấu.

Xác định các vùng cốt lõi trong hệ gen quy định tính trạng cấu trúc cây, năng suất, và phẩm chất hạt mè (Sesamum indicum L.): những hiểu biêt từ nghiên cứu Meta-QTL đến  ứng dụng xác định mục tiêu cải tiến giống (2)

Cây mè (Sesamum indicum L.) là loài cây cho dầu thực vật với nhiều lợi ích về acid béo và hàm lượng dinh dưỡng. Tuy nhiên, cơ sở di truyền của các tính trạng nông học phức tạp ấy vẫn còn manh mún trên kết quả nghiên cứu riêng lẽ   về QTL.  Phân tích Meta-QTL (MQTL) cung cáp một khuôn khổ vững chắc để xác định vùng trên hệ gen ổn định mà nới đó nó điều khiển  các tính trạng di truyền số lượng trong môi trường canh tác rất đa dạng và nề tảng di truyền rất phóng phú. Các tác giả giới thiệu phân tích MQTL toàn diện lần đầu tiên trong hệ gen cây mè, chủ đích là  tính trạng hình thái và thành phần cấu thành năng suất, hàm lượng dầu mè và chất lượng dầu mè, tính trạng hạt mè và tính trạng vỏ hạt. Tất cả những QTLs đã công bố được tổng hợp theo giá trị LOD scores, giá trị phương sai phần trăm kiểu hình được giải thích bởi QTL (PVE), và giá trị CI (confidence intervals), biểu thị trên bản đồ phân giải cao bao gồm 38.972 markers theo phần mềm BioMercator v4.2. Có tổng cộng 321 QTLs (54.9%) được thể hiện rất hiệu quả và tóm tắt trong 92 MQTLs. Giá trị CI trung bình của MQTLs là 4.01 cM, cho thấy một sự giảm 2.41-lần (58.57%) so sánh với những QTLs ban đầu (9.68 cM). Mười chín MQTLs có độ tin cậy cao (CI ≤ 5 cM và d ≥ 4 QTLs ban đầu) được sàng lọc  di truyền để tìm ra gen ứng cử viên, gen này tổng cộng gồm  có 1.678 mô phỏng duy nhất của gen. Sử dụng phương pháp “orthology-based prioritization” (ưu tiên theo tính tương đồng), người ta phân lập được 160 ứng cử viên đồng dạng, và chú thích di truyền chức năng của tất cả 43 gen, chúng liên kết chặt với các tính trạng mong muốn ở vùng MQTL. Nhiều MQTLs đồng vị trí với sự kết hợp các tính trạng marker được báo cáo trước đây trong nghiên cứu GWAS, cho nên, củng cố được tấm quan trọng của chúng xét trên ý nghĩa điều tiết các tính trạng.  kết quả cho thấy phân tích MQTL cải thiện được đáng kể độ chính xác khi lập bản đồ di truyền và cung cấp mục tiêu tron hệ gen rất đáng tin cậy trong cải tiến giống mè. Tích hợp lại những markers liên kết chặt với gen mục tiêu từ những MQTLs này trong chiến lược “marker-assisted selection” và “genomic selection schemes” mang đến chúng ta một chiến lược mạnh mẽ nhằm đẩy nhành việc cải tiến giống mè cao sản, có kiến trúc tán cây đẹp, hạt mè và phẩm chất hạt đạy yêu cầu mong muốn.

xem https://link.springer.com/article/10.1007/s00122-026-05288-5

Xác định bản chất di truyền của gen Pid3-1 và vai trò điều tiết trong tăng cường được tính kháng bệnh đạo ôn cây lúa (3)

G3 (3): bệnh đậo ôn lúa gây hại nghiêm trọng do nấm Magnaporthe oryzae gây ra. Các tác giả đã phân lập được gen kháng từ giống canh tác Wanhui 66 kháng được mẫu phân lập Guy11. Bản đồ di truyền  xác định locus nằm trên nhiễm sắc thể 6. Áp dụng phương pháp “map-based cloning” người ta lập được bản đồ gen mới tại vùng trên hệ gen có kích thước phân tử là 117 kb nơi ấy có gen đích Pid3. Dự đoán gen ứng cử viên và giải trình tự cDNA cho thấy được gen đích kháng bệnh của giống lúa Wanhui 66 gen này allelic với Pid3, được người ta ký hiệu là Pid3-1. Kết quả phân tích sâu hơn cho thấy Pid3-1 có 3 vị trí nucleotide bị thay thế, kết quả có 3 amino acid bị thay thế trong protein Pid3-1, protein này ảnh hưởng đáng kể đến kiến trúc của protein Pid3-1 theo kết quả mô phỏng toán “cấu trúc 3D”. Đột biến có chủ đích nhờ hệ thống chỉnh sửa CRISPR/Cas9 để knockout Pid3-1 xác định được kiểu hình kháng của giống Wanhui 66 được điều khiển bởi gen Pid3-1. Chỉ thị phân tử Indel-6-34, đồng phân ly với Pid3-1 được xác nhận là có thể có tác động rất lớn khi thực hiện cải tiến giống lúa cao sản kháng đạo ôn.

Bản đồ vật lý và di truyền của gen đích Pid3-1

Việc bất hoạt được SnRK1β1A sẽ tăng cường cho tính kháng phổ rộng đối với bệnh trên lúa

Nature (4): Lúa gạo là lương thực chủ yếu của hơn một nửa dân số thế giới, và khi sản lượng lúa ổn định là tiền đề bảo đảo an ninh lương thực toàn cầu. Tuy nhiên lúa dễ nhiễm bệnh với các loài nấm chủ lực, trong đó có nấm gây bệnh đạo ôn bởi Magnaporthe oryzae, bệnh đốm vằn  bởi Rhizoctonia solani, than đen bởi Ustilaginoidea virens, đố  nâu bởi Bipolaris oryzae, lúa von bởi Fusarium fujikuroi head blight bởi Fusarium graminearum. Những cơ chế này đối với sự nhiễm bệnh do nấm vẫn chưa được biết rõ. Báo cáo khoa học bày ghi nhận β subunit của SnRK1, SnRK1β1A, liên quan đến tính nhiễm bệnh phổ rộng đối với tất cả bệnh do nấm gây ra. Kết quả chỉ ra rằng những pathogens đa dạng của loài nấm kể trên đã và đang tiến hóa tập trung vào protein có tên là effector, Gas2, chúng tương tác với SnRK1β1A nhằm ngăn ngừa quá tri2ng phân rả protein (ubiquitination) và thúc đẩy quá trình chuyển vào nhân của chúng. SnRK1β1A được kích thích mạnh mẽ khi bị nhiễm nấm, làm tăng hiện tượng nhiễm bệnh bởi ức chế SnRK1α1, một tiểu đơn vị α của SnRK1 được biết là rất tích cực điều tiết tính kháng bệnh phổ rộng của cây lúa. Chú ý, các dòng lúa có SnRK1β1A bị gián đoạn trở nên kháng nhiều loài nấm mà không ảnh hưởng gì đến tính trạng nông học và năng suất  trên đồng ruộng canh tác thông thường. This study demonstrates that broad-spectrum disease resistance in crops can be achieved by disrupting inducible susceptibility genes whose encoded proteins are targeted by effectors conserved across several pathogens. Nghiên cứu này chứng minh rằng khả năng kháng bệnh phổ rộng ở cây trồng có thể đạt được bằng cách phá vỡ các gen mẫn cảm nhiễm mà các protein được mã hóa bởi chúng là mục tiêu của các tác nhân gây bệnh được bảo tồn ở nhiều tác nhân gây bệnh khác nhau.

Biên tập: BÙI CHÍ BỬU

TÀI LIỆU THAM KHẢO

(1) Arthur PoitoutJosé M. UgaldeLucille GorguesArmelle DongoisPatricia ScholzPhilippe NacryCarine AlconJean-Bernard FicheXavier DumontMarcelo NollmanKomal JhalaAnton R. SchäffnerYvon JaillaisLionel VerdoucqAndreas J. Meyer, and Alexandre Martinière. 2026. Nanoscale regulation of ROS signaling at the plasma membrane tunes the plant response to osmotic stress. PNAS June 22 2026: 123(26)

(2) Mahfuj AhmedMd. Yeamin HossainMd. Ridwanul IslamMd. Shohag RanaNishat Tasnim AnantyMst. Sufara Akhter BanuAbu Yousuf HossinMd. Golam RobbaniMd. rifuzzamanMd. Mahmudul HassanKazi Md. Kamrul HudaShahanaz Parveen & Md. Harun-Ur-Rashid. 2026. Unveiling core genomic regions shaping plant architecture, productivity, and seed quality traits in sesame (Sesamum indicum L.): insights from Meta-QTL study into breeding targets. 2026. Unveiling core genomic regions shaping plant architecture, productivity, and seed quality traits in sesame (Sesamum indicum L.): insights from Meta-QTL study into breeding targets. TAG June 27 2026; (139): 191

 (3) Junhua Liu1Niqing HeZhaoping ChengShaojun LinShiyuan FuMingmin WangFenghuang HuangSalah F Abou-ElwafaNora M Al AboudChengzhi HuangDewei Yang. 2026. Genetic identification of Pid3-1 and its regulatory role in promoting blast resistance in rice. G3 (Bethesda); 2026 Apr 1; 16(4):jkag027. doi: 10.1093/g3journal/jkag027.

(4) Guixin YuanXunli LuXingbin WangMengfei LiShiwei WangZhaoxiang HuangZhigang LiFengrui ZhangXin ZhangJun YangHailong GuoVijai BhadauriaWang-Sheng ZhuWensheng ZhaoMeng YuanJian-Min ZhouYou-Liang Peng. 2026. Inactivating SnRK1β1A promotes broad-spectrum disease resistance in rice. Nature; 2026 May; 653(8114):474-482. doi: 10.1038/s41586-026-10273-5. 

Số lần xem: 12

Đơn vị thành viên
Liên kết đối tác

Viện Khoa Học Kỹ Thuật Nông Nghiệp Miền Nam
Địa chỉ: 121 Nguyễn Bỉnh Khiêm, P. Tân Định, TP.HCM
Điện thoại: 028. 38234076 –  38228371
Website : http://iasvn.org - Email: iasvn@vnn.vn