Chăn nuôi tuần hoàn - Hướng đi tất yếu

Ngày cập nhật: 26 tháng 10 2026
Chia sẻ

Trong bối cảnh giá thức ăn chăn nuôi tăng cao, việc tận dụng phụ phẩm trồng trọt để chế biến thức ăn cho gia súc, gia cầm đang trở thành hướng đi hiệu quả, giúp người dân giảm chi phí sản xuất, hạn chế ô nhiễm môi trường và nâng cao giá trị nông nghiệp tuần hoàn

Phú Thọ: Biến phụ phẩm trồng trọt thành thức ăn chăn nuôi

Với quy mô chăn nuôi khoảng 300 con trâu, bò thịt mỗi lứa, mỗi năm trang trại của ông Nguyễn Duy Thành ở xã Bản Nguyên cần hàng trăm tấn thức ăn, tương ứng chi phí lên tới vài trăm triệu đồng. Trong khi đó, khu vực xã Bản Nguyên và các xã lân cận vốn là vùng sản xuất nông nghiệp trọng điểm của tỉnh Phú Thọ trước đây.

Đây là vùng chuyên canh lúa, ngô, rau màu, cung cấp cho thị trường hàng nghìn tấn nông sản mỗi năm. Sau thu hoạch, lượng phụ phẩm nông nghiệp phát sinh lớn, trở thành nguồn nguyên liệu dồi dào để làm thức ăn cho gia súc, vừa giúp giảm chi phí, vừa phù hợp với định hướng chăn nuôi hữu cơ. Tận dụng lợi thế đó, trang trại của ông Thành đã thu mua phụ phẩm nông nghiệp từ người dân để làm thức ăn cho đàn trâu, bò, đồng thời góp phần giảm tình trạng đốt rơm rạ gây ô nhiễm môi trường.

Ông Thành chia sẻ: “Khi mới bắt tay vào chăn nuôi, nhìn lượng phụ phẩm nông nghiệp bị bỏ sau mỗi vụ thu hoạch tôi rất tiếc, trong khi nếu nuôi theo hình thức công nghiệp thì riêng tiền cám mỗi năm cũng lên tới vài trăm triệu đồng. Vì vậy, tôi nảy ra ý tưởng thu mua nguồn phụ phẩm này để tận dụng làm thức ăn cho vật nuôi. Một phần cho ăn trực tiếp, phần còn lại phối trộn với men vi sinh để ủ làm thức ăn dự trữ. Nhờ đó, chi phí thức ăn giảm tới 60%, hiệu quả kinh tế tăng rõ rệt”.

Chất thải trong chăn nuôi được xử lý đúng quy trình là nguồn phân bón hữu cơ có giá trị. Ảnh: Nguyễn Thủy.

Đến nay, không chỉ trang trại của ông Thành mà nhiều trang trại chăn nuôi lợn, gà ở địa phương cũng đã chủ động chế biến thức ăn cho đàn vật nuôi từ phụ phẩm nông nghiệp.

Sau mỗi vụ thu hoạch, lượng lớn phụ phẩm nông nghiệp như rơm rạ, thân cây ngô, các loại rau củ hỏng... thường bị đốt hoặc vứt bỏ gây lãng phí và ô nhiễm môi trường. Trong khi đó, đây lại là nguồn nguyên liệu giàu dinh dưỡng có thể sử dụng để chế biến thức ăn chăn nuôi. Nhiều hộ dân đã chủ động thu gom phụ phẩm, băm nhỏ, phối trộn với men vi sinh để ủ chua làm thức ăn cho gia súc. Cách làm này không chỉ giúp bảo quản thức ăn lâu dài mà còn tăng khả năng tiêu hóa và hấp thu dinh dưỡng cho vật nuôi.

Các loại phụ phẩm như rơm rạ, rau củ quả già, thân cây ngô sau thu hoạch, ngô sinh khối hay cây chuối... không chỉ được sử dụng làm thức ăn cho gia súc mà còn được chế biến phục vụ chăn nuôi gia cầm, thủy sản.

Anh Phan Kim Hùng, chủ cơ sở chăn nuôi gà thịt, gà đẻ trứng quy mô trên 1 vạn con mỗi lứa ở xã Hùng Việt cho biết: “Trang trại tận dụng nguồn phụ phẩm nông nghiệp như thân cây chuối, rau, củ, quả để làm thức ăn cho đàn gà. Sau khi thu mua, các phụ phẩm được băm nhỏ, phối trộn với men vi sinh rồi ủ chua, lên men. Thức ăn sau khi ủ giúp tăng giá trị dinh dưỡng, nâng hàm lượng protein thô và khả năng tiêu hóa, từ đó giúp đàn gà phát triển tốt hơn, cho năng suất cao hơn. Bên cạnh đó, phương pháp ủ cũng khá đơn giản, có thể tận dụng các điều kiện sẵn có tại nơi chăn nuôi như bể xây, ô chuồng trống hoặc thùng nhựa, giúp tiết kiệm đáng kể chi phí so với sử dụng hoàn toàn cám công nghiệp”.

Theo nhiều hộ chăn nuôi, việc tận dụng phụ phẩm trồng trọt giúp giảm đáng kể chi phí thức ăn - khoản chi thường chiếm từ 60-70% tổng chi phí sản xuất. Nhờ chủ động được nguồn thức ăn tại chỗ, người dân giảm phụ thuộc vào cám công nghiệp và hạn chế rủi ro do biến động giá cả thị trường.

Không chỉ tiết kiệm chi phí, thức ăn chế biến từ phụ phẩm nông nghiệp còn giúp vật nuôi phát triển ổn định, cải thiện chất lượng thịt và giảm nguy cơ mắc các bệnh đường tiêu hóa nhờ quá trình lên men tự nhiên. Một số trang trại còn áp dụng mô hình trồng trọt - chăn nuôi tuần hoàn, sử dụng phụ phẩm cây trồng làm thức ăn cho vật nuôi, sau đó tận dụng phân chuồng để ủ thành phân hữu cơ phục vụ sản xuất nông nghiệp.

Ông Nguyễn Xuân Thìn - Trưởng phòng Kỹ thuật - Nghiệp vụ, Chi cục Chăn nuôi, Thú y và Thủy sản cho biết: Để nâng cao hiệu quả chế biến thức ăn từ phụ phẩm trồng trọt, thời gian tới, Chi cục sẽ phối hợp với các địa phương tổ chức tập huấn kỹ thuật cho người dân về phương pháp ủ chua, phối trộn khẩu phần ăn, sử dụng men vi sinh và bảo quản thức ăn.

Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, công nghệ số trong chăn nuôi

Hiện nay, với các trang trại chăn nuôi quy mô lớn, chất thải luôn là một trong những bài toán khó nhất. Lượng phân, nước tiểu và nước vệ sinh chuồng trại nếu không được kiểm soát có thể tạo mùi hôi, phát sinh khí độc, gây ô nhiễm đất, nước và không khí.

Tại Công ty TNHH Trang Linh (xã Xuyên Mộc, TP.HCM), việc áp dụng hiệu quả các biện pháp tuần hoàn trong chăn nuôi giúp bài toán môi trường trở thành một phần của hiệu quả sản xuất.

Công ty đang nuôi gần 50.000 con heo thịt và gần 3.500 con heo nái trong hệ thống chuồng lạnh khép kín. Phân, nước tiểu và đệm lót sinh học sau quá trình nuôi được thu gom để xử lý, tạo thành phân hữu cơ.

Một phần sàn chuồng được công ty Trang Linh lót bằng vỏ trấu trộn men vi sinh. Chất thải rắn được hấp thụ và phân hủy ngay trên nền đệm, giúp hạn chế phát sinh nước thải từ chất thải rắn. Công nghệ này đồng thời tạo môi trường nuôi phù hợp hơn cho đàn heo.

Sau mỗi lứa nuôi, đệm lót sinh học đã qua sử dụng được thu gom, vun thành luống, bổ sung men vi sinh và ủ theo công nghệ compost. Trong quá trình ủ, nhiệt độ trong luống có thể đạt 60-70 độ C, thúc đẩy phân hủy vật chất hữu cơ, giảm mùi và tạo ra nguyên liệu để sản xuất phân hữu cơ vi sinh.

Theo ông Phạm Trường Giang, Giám đốc Công ty Trang Linh, nguyên liệu sản xuất và phế phụ phẩm chăn nuôi được định hình vòng tuần hoàn ngay trong trang trại: vỏ trấu trở thành đệm lót, đệm lót hấp thụ chất thải, chất thải được ủ thành phân hữu cơ và phân này quay trở lại phục vụ sản xuất nông nghiệp.

“Mỗi tháng, Trang Linh sử dụng khoảng 2.300 tấn thức ăn chăn nuôi, tạo ra khoảng 1.300 tấn nguyên liệu từ phân và đệm lót. Khoảng 600 tấn phân hữu cơ được sản xuất từ nguồn chất thải này, cung cấp cho người trồng cây ăn trái và các loại cây công nghiệp”, ông Giang thông tin.

Không dừng ở việc kiểm soát và xử lý chất thải, Trang Linh còn chủ động giảm lượng nước sử dụng trong quá trình chăn nuôi, đồng thời tận dụng nguồn nước sau xử lý cho nhiều mục đích khác nhau.

Khác với phương thức nuôi truyền thống phải sử dụng nhiều nước để tắm heo và vệ sinh chuồng trại, mô hình đệm lót sinh học kết hợp chuồng lạnh tại Trang Linh giúp cắt giảm đáng kể nhu cầu sử dụng nước.

Tại mỗi trại, nền chuồng được thiết kế thành hai khu vực. Phần nền xi măng bố trí máng ăn tự động, phần còn lại sử dụng đệm lót sinh học kết hợp hệ thống máng uống. Đệm lót có khả năng duy trì độ ẩm, nhiệt độ thích hợp và phân hủy chất thải ngay tại chuồng, nên đàn heo không cần tắm trong suốt quá trình nuôi. Nhờ đó, doanh nghiệp không chỉ giảm lượng nước tiêu thụ mà còn tiết kiệm điện, nhân công và chi phí xử lý nước thải.

“Với quy mô đàn khoảng 50.000 con, nếu mỗi con sử dụng trung bình khoảng 20 lít nước/ngày thì tổng lượng nước tiêu thụ mỗi ngày là rất lớn. Vì vậy, chỉ cần giảm đáng kể lượng nước dùng trong khâu vệ sinh, tắm heo cũng giúp doanh nghiệp tiết giảm một khoản chi phí đáng kể cho cả nước sạch và xử lý nước thải”, ông Giang cho hay.

Việc hạn chế nước trong chuồng còn tạo ra môi trường nuôi khô ráo, sạch hơn. Điều này giúp hạn chế các bệnh liên quan đến đường hô hấp, tiêu hóa và xương khớp ở đàn heo. Khi vật nuôi khỏe mạnh, nhu cầu sử dụng thuốc thú y, kháng sinh cũng giảm, qua đó góp phần hạ chi phí và giá thành sản xuất.

Trang Linh đồng thời áp dụng công nghệ màng Biogill để xử lý chất thải lỏng. Hệ thống sử dụng các màng có lớp gel đặc biệt để vi khuẩn bám dính, giúp quá trình xử lý diễn ra với năng lượng tuần hoàn nước thấp hơn so với phương pháp bơm khí truyền thống. Nước sau xử lý được kiểm soát các chỉ tiêu khí độc và tái sử dụng.

Kiểm soát chất lượng và tìm nơi sử dụng sản phẩm

Theo ông Hồ Trúc Thanh, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường TP Hồ Chí Minh, nhiều cơ sở quy mô nhỏ còn thiếu vốn, hạn chế về mặt bằng, nhân lực và khả năng tiếp cận công nghệ. Việc liên kết giữa người chăn nuôi với đơn vị thu gom, xử lý phụ phẩm và thị trường tiêu thụ ở một số nơi chưa chặt chẽ.

“Tôi cho rằng phát triển chăn nuôi tuần hoàn không chỉ là câu chuyện lựa chọn một công nghệ xử lý chất thải mà cần được nhìn nhận như một quá trình tổ chức lại sản xuất, liên kết các chủ thể trong chuỗi giá trị và thay đổi cách sử dụng tài nguyên”, ông Thanh nhấn mạnh.

Áp lực xử lý chất thải có thể được giảm ngay từ cách sử dụng thức ăn và nước trong chuồng nuôi. Khi những khoản thất thoát này chưa được kiểm soát thì cơ sở chăn nuôi vừa phải mất chi phí đầu vào, vừa phải xử lý lượng lớn chất thải.

Theo Tiến sĩ Lê Thụy Bình Phương, Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh, cho vật nuôi ăn theo nhu cầu, giảm dư thừa chất đạm và khoáng, nâng chất lượng thức ăn thô là những giải pháp cần ưu tiên. Sử dụng thức ăn hiệu quả giúp giảm chất thải từ nguồn, đồng thời việc theo dõi chi phí trên mỗi đơn vị sản phẩm cũng tạo căn cứ đánh giá kết quả sản xuất.

Trong nuôi lợn, yêu cầu này thể hiện ở cả khẩu phần và cách cho ăn. Thạc sĩ Đỗ Tấn Dương, Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh, lưu ý cần cân đối chất đạm và phospho, giảm dư thừa nhưng vẫn đáp ứng nhu cầu của đàn vật nuôi. Thức ăn rơi xuống rãnh thoát nước cũng phải được hạn chế, bởi phần thất thoát này làm tăng lượng chất hữu cơ mà hệ thống xử lý phía sau phải tiếp nhận.

Tương tự, máng uống rò rỉ hoặc nước mưa chảy vào hệ thống thu gom làm tăng lượng nước phải xử lý. Sửa điểm rò rỉ, tách nước mưa khỏi nước thải và theo dõi lượng nước sử dụng trên mỗi đơn vị sản phẩm là những việc có thể thực hiện trước khi tính đến đầu tư mới. Tuy nhiên, giảm lãng phí phải đi cùng bảo đảm đủ nước cho vật nuôi.

Việc tận dụng phụ phẩm làm thức ăn cần được xem xét trong cùng mối quan hệ giữa chi phí và chất lượng. Theo Tiến sĩ Lê Thụy Bình Phương, phụ phẩm phải được phân loại tại nguồn, đánh giá dinh dưỡng, chuẩn hóa công thức và bảo quản. Với nguồn nguyên liệu đưa vào khẩu phần, Thạc sĩ Đỗ Tấn Dương lưu ý phải rõ nguồn gốc, không bị mốc hoặc lẫn rác; phụ phẩm ướt cần sử dụng đúng thời hạn.

Mua được phụ phẩm với giá thấp chưa đồng nghĩa với việc giảm được chi phí chăn nuôi. Cơ sở còn phải bảo quản nguyên liệu đúng cách và phối trộn thành khẩu phần phù hợp với nhu cầu dinh dưỡng của đàn vật nuôi. Nếu không kiểm soát tốt chất lượng ở các khâu này, việc tận dụng phụ phẩm khó mang lại hiệu quả như mong muốn.

Sau khi giảm thất thoát đầu vào, phân loại chất thải quyết định khả năng lựa chọn phương án xử lý. Tách phân rắn khỏi nước thải, không để lẫn chất nguy hại và ghi nhận khối lượng từng loại giúp xác định nguồn nào phù hợp để ủ phân, tạo khí sinh học hoặc chuyển hóa bằng sinh vật.

Theo GS.TS. Dương Nguyên Khang, Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh, hệ thống cần được thiết kế theo lượng chất thải thực tế, thay vì chỉ căn cứ số lượng vật nuôi. Cơ sở phải xác định lượng phân mỗi ngày, nước thải lúc cao điểm, diện tích, nguồn điện, nhân lực và nhu cầu sử dụng sản phẩm thu hồi.

Như vậy, hiệu quả công nghệ gắn trực tiếp với điều kiện vận hành. Hầm khí sinh học (biogas) cần đủ thể tích, thời gian lưu và được kiểm soát lượng nguyên liệu đưa vào. Nếu quá tải hoặc để nước mưa tràn vào, hiệu quả sinh khí có thể giảm. Khí thu được cũng cần có phương án sử dụng cho nhu cầu nhiệt hoặc điện.

Cùng với đó, xử lý mùi và chất hữu cơ khác với xử lý mầm bệnh. Nước nhìn trong hơn chưa đủ để kết luận an toàn, còn biogas không thay thế bước khử trùng. Bã và nước sau hầm cần được đánh giá, có thể phải xử lý bổ sung tùy chất lượng và mục đích sử dụng.

Việc xử lý nối tiếp qua nhiều công đoạn được áp dụng trong mô hình của Công ty BAF Việt Nam. Theo ông Phạm Thế Anh, Trưởng Phòng Vận hành môi trường công ty, phân rắn được tách trước để giảm lượng chất rắn và chất hữu cơ đi vào hệ thống. Nước thải qua hai hồ biogas, khí sinh ra được thu gom, xử lý và sử dụng phát điện; nước tiếp tục được xử lý sinh học qua vùng thiếu khí và hiếu khí nhằm giảm chất hữu cơ, đặc biệt là nitơ.

Ở mô hình này, thu hồi năng lượng và xử lý nước được thực hiện trong cùng hệ thống, nhưng chất lượng nước đầu ra vẫn cần được kiểm chứng riêng. Các chỉ tiêu về chất hữu cơ, chất rắn lơ lửng, nitơ, phospho và vi sinh phải được đánh giá bằng mẫu có tính đại diện; nước chưa đạt yêu cầu không được xả hoặc tái sử dụng.

Ngay cả khi đáp ứng yêu cầu chất lượng, lượng nước tưới và phân bón vẫn phải phù hợp nhu cầu của cây, khả năng tiếp nhận của đất. Thạc sĩ Đỗ Tấn Dương lưu ý có đất trồng chưa chắc đã đủ diện tích tiếp nhận toàn bộ dinh dưỡng phát sinh từ chăn nuôi. Kế hoạch tận dụng phụ phẩm vì vậy phải tính đến cả nơi sử dụng và lượng sử dụng, tránh tưới, bón quá mức hoặc để chảy tràn.

Thanh Xuân - Kinhtenongthon.vn

Số lần xem: 44

Đơn vị thành viên
Liên kết đối tác

Viện Khoa Học Kỹ Thuật Nông Nghiệp Miền Nam
Địa chỉ: 121 Nguyễn Bỉnh Khiêm, P. Tân Định, TP.HCM
Điện thoại: 028. 38234076 –  38228371
Website : http://iasvn.org - Email: iasvn@vnn.vn