Oryza rufipogon (2n=24), hệ gien AA, phân bố rộng khắp tr6en các vùng sinh thái Việt Nam. Một dòng dẫn xuất từ O. rufipogon có nguồn gốc ở Đồng Tháp Mười được khai thác thành công trong 20 năm qua là AS996 (mẹ là IR64, trong hồi giao nhờ chỉ thị phân tử).
Nghiên cứu phòng trừ bệnh mốc đen lá hại cà chua vụ mưa được thực hiện tại huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang từ tháng 4 đến tháng 11 năm 2009. Kết quả cho thấy Daconil 75WP, Trineb 80WP, Dithane M-45 80WP có hiệu lực ức chế nảy mầm của bào tử nấm Pseudocercospora fuligena ở mức trung bình và Antracol zinc không cho thấy hiệu lực.
Vùng Đông Nam Bộ (ĐNB) có diện tích đất xám là 744.652 ha, chiếm 31,75% tổng diện tích tự nhiên của vùng. Đất xám ĐNB chịu tác động khá lớn của quá trình rửa trôi, xói mòn, chính vì vậy, việc sử dụng các loại phân bón hữu cơ nhằm góp phần duy trì và cải thiện độ phì nhiêu của đất xám mang ý nghĩa to lớn trong việc khai thác và sử dụng một cách có hiệu quả và bền vững đối với vùng đất này.
Kết quả nghiên cứu về hiện trạng sản xuất lúa bình quân hộ được điều tra có diện tích nhỏ nhất là 0,5 ha, lớn nhất là 6,5 ha và trung bình là 2,2 ha. Có 100% số hộ sản xuất lúa Đông Xuân (ĐX) và Hè Thu (HT), chỉ có 55% hộ sản xuất vụ Thu Đông (TĐ). Năng suất trung bình vụ ĐX đạt được 7,17 T/ha (hộ đạt thấp 5 T/ha, cao nhất 8 T/ha)
Kết quả nghiên cứu về công suất/ngày của các nhà máy biến thiên từ 30 tấn cho đến 500 tấn/ngày, trung bình là 170,2 tấn/ngày. Lượng lúa xay chà thực tế/năm biến thiên khá lớn giữa các nhà máy từ 2.040 tấn/năm cho đến 100.000 tấn/năm. Trung bình là 33.360 tấn/năm. Có 20% nhà máy hoạt động vượt công suất lý thuyết/năm, từ 130 – 141%, trong khi có đến 80% nhà máy hoạt động dưới mức công suất lý thuyết/năm.
Lan hồ điệp là cây trồng có giá trị kinh tế cao đối với một số nước xuất khẩu hoa. Vi rút gây bệnh khảm vàng trên lá (CyMV) là bệnh nguy hiểm và gây hại phổ biến nhất đối với cây hoa lan trên toàn thế giới.
Nghiên cứu được thực hiện trong 2 vụ liên tục trên cùng một thửa đất và được bố trí theo kiểu khối đầy đủ ngẫu nhiên (RCBD) với 03 lần lặp lại. Các công thức thí nghiệm bao gồm: đối chứng (bón phân khoáng: 60 kg N + 60 kg P2O5 + 90 kg K2O/ha) và bón phân hữu cơ vi sinh với liều lượng: 500 – 1000 – 1500 – 2000 kg/ha/vụ
Diễn biến mực nước dưới đất tháng 10: nhìn chung mực nước có hai xu hướng dâng cao và hạ thấp so với giá trị trung bình tháng trước, tuy nhiên xu hướng dâng cao chiếm ưu thế trên toàn vùng với giá trị là 0,44m. Giá trị dâng cao nhất là 1,44m tại xã Phạm Văn Cội, huyện Củ Chi, TP Hồ Chí Minh (Q09902D) và hạ thấp nhất là 1,51m tại TT Vĩnh Hưng, huyện Vĩnh Hưng, Long An (Q02702T). Mực nước sâu nhất là 10,16m tại xã Phạm Văn Cội, huyện Củ Chi, TP Hồ Chí Minh (Q09902A).
Vùng Tây Nguyên gồm có 4 tầng chứa nước chính. Theo thứ tự từ trẻ đến già gồm: tầng chứa nước lỗ hổng bồi tích hiện đại (Q), tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pleistocen giữa (βQII), tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pliocen-Pleistocen dưới (βN2-QI) và tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng vỉa các thành tạo đầm hồ trầm tích Neogen (N).
Châu thổ sông Mêkông là một châu thổ trẻ, được hình thnafh từ khoảng 12000 năm nay, kết quả của sự tương tác giữa ba quá trình sông, sống và triều. Châu thổ còn đang có nhiều biến động. Có những giòng đang trong quá trình hình thành từ 100 năm trở lại đây. Nhiều cù lao trên sông Tiền, sông Hậu được sinh ra và ở đó được lập nên những xã, huyện mới. Nhiều nhánh sông hẹp dần cùng lúc với các cù lao lớn lên và trở thành lòng sông “cổ” trong những cù lao mới to hơn. Cửa Ba Lai và Cửa Bassac đã và đang biến động theo quá trình này.
Giống lan Hồ Điệp tiêu thụ tại Việt Nam đa số có nguồn gốc ngọai nhập, kém thích nghi với khí hậu vùng Đông Nam bộ. Vật liệu lai tạo gồm 20 giống lan Hồ Điệp nhập nội và 2 giống lan hoang dại bản địa (tiểu Hồ Điệp – Phal. pulcherrima). Kết quả có 9 tổ hợp lai phát triển thành cây, trong đó 7 tổ hợp lai có hoa, 2 tổ hợp lai giữa giống lai và lan hoang dại không cho hoa.
Trên đa số các loại cây trồng ở ĐBSCL, nhất là rau màu, phân lân được sử dụng với liều lượng rất cao mà chưa chú ý đến đặc tính độ phì lân trong đất. Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Mỹ Hoa và Đặng Duy Minh (2006) cho thấy ở nhiều ruộng khảo sát trong vùng trồng rau chuyên canh của Tiền Giang, hàm lượng lân dễ tiêu (Bray 1) đạt rất cao (129-234 mg P/kg).
Hồ tiêu là cây công nghiệp lâu năm được trồng với mật độ dày 1.500-2.500 trụ/ha và là cây chịu thâm canh, nhưng lại rất nhạy cảm với sâu bệnh. Để đạt năng suất cao và có vườn tiêu khỏe cần phải bón đầy đủ và cân đối N-P-K-Phân hữu cơ. Các nguyên tố dinh dưỡng trung, vi lượng cũng cần thiết đối với năng suất và chất lượng hạt tiêu.
Giai đoạn 1990-2010 đã có một số nghiên cứu về phân bón cho chè, song chủ yếu tập trung vào phân bón vô cơ. Liều lượng và tỷ lệ dinh dưỡng bón cho chè phụ thuộc rất lớn vào giống, đất đai và điều kiện tự nhiên. Đồng thời sử dụng phân bón cũng không được để lại dư lượng nitrat quá cao, hàm lượng kim loại nặng phải dưới ngưỡng cho phép ... Từ năm 2005 đến nay, cùng với nghiên cứu bón phân hóa học, nghiên cứu sử dụng phân bón sinh học đã được quan tâm hơn.
Thực tế cho thấy phần lớn cây điều được trồng ở những vùng đất xấu: đất xám bạc màu, đất bị laterit hóa, đất cát ven biển, hơn nữa nông dân trồng điều thường nghèo nên việc bón phân chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh cho cây điều không được đầu tư đúng mức.
Cà phê là cây trồng có nhu cầu dinh dưỡng cao, kết quả nghiên cứu của Viện KHKT Nông Lâm Nghiệp Tây Nguyên cho thấy tích lũy dinh dưỡng đa, trung lượng của cây cà phê vối cao nhất là đạm, tiếp đến là kali, canxi, magie, lân, lưu huỳnh. Trong một tấn cà phê nhân co chứa từ 35-40 kg N; 6-8 kg P2O5; 40-45 kg K2O.
Sử dụng dòng đơn tính hoa cái trong sản xuất hạt lai F1 góp phần giảm rất nhiều chi phí về công lao động và thời gian cho việc khử đực (bao cách ly hoa cái). Tuy nhiên, do không có hoa đực nên việc duy trì dòng này phải có sự can thiệp bên ngoài bằng các yếu tố kỹ thuật. Nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới cho thấy cùng với các gen xác định giới tính, hormon thực vật cũng có liên quan đến quá trình hình thành giới tính của dưa chuột. Gibberellin (GA) đóng vai trò như một tác nhân biến đổi giới tính cái thành đực và ethylen có tác dụng biến giới tính đực thành cái (Pierce LK et al., 1990).
Hoa lily là một trong những loại hoa cắt cành đang được ưa chuộng tại Việt Nam. Từ đầu năm 2002-2005, Viện Nghiên cứu Rau quả đã phối hợp với Viện Di truyền Nông nghiệp nhập nội, khảo nghiệm một số giống hoa lily. Tuy nhiên hiện tại chủng loại giống hoa lily thích hợp trồng tại miền Bắc vẫn còn rất ít, nguồn giống chưa chủ động được, hàng năm vẫn phải nhập nội từ Hà Lan, Trung Quốc nên giá thành củ giống cao, bấp bênh cho sản xuất. Để khắc phục tồn tại trên đồng thời đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và thực tiễn sản xuất, năm 2008 chúng tôi tiến hành đề tài: Tuyển chọn và xây dựng quy trình nhân giống hoa lily Manissa.
Với sự phát triển của công nghệ sinh học, diện tích cây trồng biến đổi gen ngày càng tăng, lên đến 134 triệu ha trong năm 2009, trong đó đậu tương biến đổi gen chiếm 76 triệu ha. Ở Việt Nam đậu tương là cây thực phẩm quan trọng, diện tích gia tăng từ 120.000 ha năm 1995 lên 200.000 ha năm 2009, với năng suất tương ứng tăng từ 1,0 lên 1,4 tấn/ha.
Việt Nam có nguồn gen cây có củ rất phong phú, đa dạng cả về thành phần loài và giống. Cây có củ được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau, làm lương thực, thực phẩm, làm thức ăn gia súc, làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, làm thuốc và làm gia vị…
Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) và Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là những vùng sản xuất nông nghiệp chính của cả nước, đặc biệt là sản xuất lúa. Tính chung cả hai vùng, diện tích trồng lúa chiếm khoảng 68% và sản lượng chiếm trên 70% so với cả nước, riêng ĐBSCL còn là nơi sản xuất 95% lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam. Theo Cẩm nang Sử dụng đất nông nghiệp (Bộ Nông nghiệp & PTNT, 2009) và số liệu của Tổng cục Thống kê (http://www.gso.gov.vn): Diện tích đất trồng lúa ở cả hai vùng giảm đi nhưng diện tích gieo trồng lại tăng lên do hệ số sử dụng đất tăng, từ 1,49 (năm 1990) lên 1,92 (2007). Năng suất lúa tăng từ 35,7 tạ/ha (1990) lên 55,3 tạ/ha (2011).
Số trái và dạng trái đậu nành là hai yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến năng suất sau cùng của hạt. Phương pháp phân tích “Fourier Elliptic” được sử dụng trong nghiên cứu này. Tám mươi giống đậu nành có nguồn gốc khác nhau được gieo từ tháng 1 đến tháng 4/2010 tại tại lô đất thuộc Khu vực V, phường Hưng Thạnh, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.
Nghiên cứu khảo sát nguồn vật liệu bố mẹ trong chọn tạo giống ngô chịu hạn cho các tỉnh phía Nam đã được thức hiện trên 62 dòng ngô và 8 chỉ thị phân tử SSR có liên quan đến QTL chịu hạn. Khảo sát kiểu hình các dòng thuần trên điều kiện đồng ruộng, với hai chế độ nước khác nhau cho thấy có sự khác biệt lớn của các tính trạng giữa chúng.
Sản xuất lúa Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) trong những năm qua đã có sự thay đổi diện tích, trong giai đoạn 2000-2010, diện tích lúa ĐBSCL thu hẹp 6.000 ha. Riêng trong giai đoạn 2000-2005 diện tích lúa giảm 119.500 ha, sau đó phục hồi lại trong giai đoạn 2005-2010 tăng 113.500 ha. Sự tăng giảm diện tích theo các giai đoạn chủ yếu do: (i) giá cả lúa bấp bênh diện tích tăng, giảm cục bộ trong từng vụ; (ii) sự không ổn định diện tích lúa thu đông và (iii) sự tăng giảm diện tích của vụ lúa mùa (trong đó có vụ lúa trên nền đất nuôi tôm sú).
Phân bón có vai trò quan trọng trong tăng năng suất cây trồng. Tổng sản lượng nông sản tăng lên nhờ phân bón tại Việt Nam ước tính khoảng 35-40%, tại Trung Quốc khoảng 32% và trên toàn thế giới khoảng 50%. Đánh giá tổng quan hiệu quả sử dụng phân bón qua các thời kỳ để từ đó có thể định hướng nghiên cứu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đạt hiệu quả kinh tế cao, chất lượng nông sản tốt và an toàn môi trường.
Trong hơn 20 năm thời kỳ đổi mới, nông nghiệp Việt Nam đã có bước phát triển nhảy vọt, từ nền nông nghiệp tự cấp tự túc đã nhanh chóng chuyển thành nền nông nghiệp hàng hoá: hàng hoá đa dạng có năng suất, chất lượng nông sản ngày càng tăng
Hiện nay, việc áp dụng quy trình kỹ thuật “Thâm canh tổng hợp” trong sản xuất lúa cao sản rất phổ biến, đặc biệt áp dụng tiến bộ kỹ thuật “3 Giảm – 3 Tăng” như là một giải pháp chính trong chỉ đạo sản xuất lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).
Tiến bộ kỹ thuật (TBKT) quyết định tiềm năng chất lượng và sản lượng sản xuất nông nghiệp thông qua sự phát triển và cải tiến kỹ thuật. Nông dân là thành phần ảnh hưởng bởi các yếu tố ngoại sinh (cấu trúc cộng đồng, thể chế,...) và yếu tố nội sinh do nông hộ điều khiển. Nông dân là người quyết định có hay không tiếp nhận và áp dụng tiến bộ kỹ thuật và làm thế nào để sử dụng nguồn lực nhằm hỗ trợ chúng. Sự quyết định áp dụng TBKT tùy thuộc vào sự nhận định của nông dân về chúng.
Hồ tiêu (piper nigrumL.) được xem là “vua của các loại gia vị” và trở thành sản phẩm nông nghiệp quan trọng nhất của Việt Nam. Ngày nay, Việt Nam là quốc gia sản xuất và xuất khẩu hồ tiêu đứng hàng đầu trên thế giới. Bảo vệ cây trồng là rất quan trọng trong sản xuất cây hồ tiêu vì các nguồn gây hại là những nguyên nhân chính làm giảm năng suất và chất lượng hạt tiêu. Một trong những nguồn gây hại đó là tuyến trùng hại rễ (Meloidogyne spp.).












