Tài liệu tham khảo
Ứng dụng công nghệ sinh học để sản xuất phân hữu cơ
Thứ sáu, 10/01/2014 | 21:45:05

Bài viết giới thiệu một số phương pháp sản xuất, chế biến một số chủng loại phân bón hữu cơ có chất lượng cao, sử dụng nguyên liệu của địa phương do công ty Cổ phần Phân bón Bình Điền chủ trì và thực hiện. Với các loại rau ăn lá có thời gian sinh trưởng ngắn, sử dụng 20-30 tấn phân hữu cơ được chế biến cẩn thận đều có thể thay thế được phân hóa học ngay trong vụ đầu sản xuất trên nền đất xám những năm trước có sử dụng phân khoáng.

Phân loại phế phụ phẩm được sử dụng để làm phân bón hữu cơ
Thứ hai, 06/01/2014 | 08:44:07

Để phục vụ cho công tác khuyến nông bài viết này đề cập đến một số nội dung liên quan đến cơ sở khoa học để phân loại phế phụ phẩm được sử dụng để làm phân bón hữu cơ. Nội dung của bài viết gồm có 5 phần chính, đó là: i) phế phụ phẩm từ ngành trồng trọt; ii) phế phụ phẩm từ ngành chăn nuôi; iii) phế phụ phẩm từ ngành thủy sản; iv) phế phụ phẩm từ sinh hoạt cộng đồng; v) nguyên tắc chung trong sử dụng phân bón hữu cơ.

Sử dụng phân bón và sự phát thải khí nhà kính trong nông nghiệp/ruộng lúa
Chủ nhật, 05/01/2014 | 04:40:04

Nồng độ khí nhà kính (CO2, CH4  và N2O và Halocarbons) đã tăng lên kể từ trước cách mạng công nghiệp do hoạt động của con người. Nồng độ CO2  trong khí quyển tăng từ 280 ppm vào năm 1750 lên 379 ppm năm 2005, và nồng độ N2O tăng từ 270 ppb đến 319 ppb trong cùng thời gian, còn khí CH4  trong năm 2005 rất nhiều, vào khoảng 1774 ppb, tăng hơn gấp đôi nồng độ của nó ở thời kỳ tiền công nghiệp là 750 ppb.

Nâng cao hiệu quả sử dụng phân lân với kỹ thuật Polymer
Chủ nhật, 05/01/2014 | 04:35:20

Tiểu môi  trường  xung quanh hạt phân lân hoặc trong dung dịch phân lân là  đối tượng của  rất nhiều phản ứng chính và phụ có thể xảy ra, ảnh hưởng  mạnh đến lượng lân hữu hiệu. Tác động thúc đẩy  hoặc làm chậm lại các phản ứng này là phương pháp hữu hiệu để nâng cao hiệu quả sử dụng phân lân ở dạng rắn cũng như dạng lỏng,  cải thiện  năng suất và hiệu quả  kinh tế đồng thời có  ảnh hưởng  tích cực đến  môi trường.

Đánh giá sự biến động đất mặn và đất phèn vùng ĐBSCL sau 30 năm sử dụng
Thứ bảy, 28/12/2013 | 06:26:46

Đánh giá sự biến động của đất phèn giữa hai thời kỳ (TK) 1975 và 2005. Bản  đồ  đất mặn,  đất phèn TK1975  được số hóa từ các bản  đồ  đất cũ (xây dựng vào những năm 70 của thế kỷtrước). Bản  đồ  đất mặn,  đất phèn TK 2005  được xây dựng trong giai  đoạn 2006 - 2009, bằng cách lấy mẫu bổ sung, chỉnh lý bản  đồ  đất TK1975. Phẫu diện đất được lấy theo hình “rẻ quạt”, lấy dày lên từ tâm ranh giới  đất phèn ra phía ngoài ranh giới các loại đất khác.

Xây dựng bản đồ các nhóm liên kết GENOME cây bông cỏ (G. arboreum L.) phục vụ nghiên cứu chọn giống bông vải kháng bệnh xanh lùn bằng chỉ thị phân tử
Thứ tư, 17/02/2016 | 09:09:11

Cây bông  Gossypium  L.  bao gồm 45 loài lưỡng bội và 5 loài tứ bội (Fryxell, 1992). Bông lưỡng bội chia làm 8 bộ gen,  được ký hiệu từ A đến G và K (Beasley, 1940; Wendel và Cronn, 2003) với số lượng nhiễm sắc thển = 13. Cho đến nay, có 4 loài bông  được trồng lấy sợi: Hai dạng nhị bội (bông cỏ) (2n = 2x = 26):  G. arboreumvà  G. herbaceumvà hai dạng tứ bội (2n = 2x = 52):  G. hirsutum (bông luồi) và G. barbadense (bông hải đảo). Trong đó, bông cỏ G. arboreumcó bộ gen lưỡng bội AA có các  đặc tính nông sinh học tốt như chín sớm, độ bền xơ, hàm lượng dầu cao, có khả năng chống chịu điều kiện bất lợi, kháng sâu bệnh tốt... Vì thế,  đây là nguồn gen  được các nhà chọn giống quan tâm (Ma, 2008).

Nghiên cứu các giải pháp kỹ thuật để phát triển cây mè trong cơ cấu luân canh tăng vụ trên vùng đất xám trồng lúa Đồng Tháp Mười
Thứ tư, 17/02/2016 | 09:09:30

Đất xám là nhóm đất chính ở Đồng Tháp Mười, chiếm 16,10% tổng diện tích. Phần lớn trên đất này chỉ sản xuất 2 vụ lúa Đông Xuân -lúa Hè Thu. Thời gian đất bỏ hóa giữa 2 vụ khoảng  70 - 90 ngày. Mè là cây trồng cạn ngắn ngày, luân canh tăng vụ tốt trong cơ cấu lúa Đông Xuân - mè Xuân Hè - lúa Hè Thu và hiệu quả kinh tế tăng khoảng 30% so với độc canh  lúa Đông Xuân - lúa Hè Thu.

Chọn lọc và đánh giá khả năng đối kháng của vi khuẩn Bacillus Spp. Với vi khuẩn Xanthomonas gây bệnh đốm lá trên cải ngọt
Thứ tư, 17/02/2016 | 08:42:24

Bệnh đốm lá trên nhóm rau họ thập tự với triệu chứng bệnh điển hình là đốm xanh giot dầu, sũng nước, hơi lõm so với bề mặt lá do vi khuẩn Xanhthomonas sp. gây ra. Bệnh là một trong những nguyên nhân làm giảm năng suất và chất lượng sản phẩm đáng kể, đặt biệt trong giai đọan mùa mưa.

Kết quả chọn tạo giống Ngô nếp lai phục vụ cho sản xuất ở các tỉnh phía Nam
Thứ ba, 10/12/2013 | 14:25:01

Từ năm 2009 đến 2011, Trung tâm Hưng Lộc đã thu thập, lưu giữ  và đánh giá được 855 dòng ngô nếp; 42 dòng nếp ngọt. Kết quả thử khả năng kết hợp và lai tạo được 329 tổ hợp lai. Khảo sát đánh giá và tuyển chọn được 21 tổ hợp lai ưu tú, những tổ hợp lai này có các đặc điểm: thời gian sinh trưởng 76- 79 ngày, tương đương với đối chứng MX10 và Tím dẻo 926; có hương vị thơm ngon và có độ dẻo tương đương đối chứng MX10. Xác định được 5 tổ hợp lai triển vọng nhất là VK6; VK10; VK24; VK36 và VK37.

Nghiên cứu về chế biến lúa gạo cho xuất khẩu ở đồng bằng sông Cửu Long
Thứ ba, 10/12/2013 | 14:12:09

Qua nghiên cứu cho thấy công suất/ngày của các nhà máy biến thiên từ 30 tấn cho đến 500 tấn/ngày, trung bình là 170,2 tấn/ngày. Có 20% nhà máy hoạt động vượt công suất lý thuyết/năm, từ 130 - 141%. Hầu hết số nhà máy còn lại chỉ hoạt động dưới mức công suất lý thuyết/năm. Lượng lúa xay chà hàng ngày của các nhà máy biến thiên từ 6 tấn – 500 tấn/ngày, trung bình là 136 tấn/ngày. Tỷ lệ gạo lức thu hồi cao nhất trong vụ Đông xuân (ĐX), kế đến vụ Thu Đông (TĐ) và sau cùng là vụ Hè Thu (HT), tương ứng là 73,44%; 71,67% và 68,81%. Đối với giống lúa IR 50404 cho tỷ lệ gao nguyên thu hồi cao nhất trong các giống hiện nay.

Kết quả chọn tạo giống khoai tây giai đoạn 2007-2008 tại Đà Lạt
Thứ tư, 17/02/2016 | 08:42:40

Chọn tạo giống khoai tây năng suất cao, chất lượng tốt, kháng bệnh mốc sương cho tiêu dùng tươi và chế biến công nghiệp là định hướng nghiên cứu quan trọng được tiến hành nhiều năm của Trung tâm nghiên cứu Khoai tây, Rau và Hoa (PVFC). Qua nghiên cứu, lai tạo, chọn lọc, một số dòng khoai tây kháng mốc sương, có tiềm năng năng suất cao và ổn định đã được phát triển, nhân nhanh và bước đầu khảo nghiệm.

Sản xuất và tiêu thụ phân bón thế giới
Thứ hai, 09/12/2013 | 14:06:48

Phân bón không chỉ có vài trò quan trọng đối với an toàn lương thực mà còn có  ảnh hưởng đáng kể  đến sức khỏe con người. Việc  trao giải hòa bình năm 1970 cho  tiến sĩ Norman Borlaug cho thấy thế giới đã ghi nhận mối liên kết khoa học nông nghiệp với sức khỏe cộng đồng. Tăng cường sử dụng phân bón cho cây trồng đã đẩy mạnh sản xuất trên một đơn vị diện tích, tăng nguồn cung cấp lượng thực cũng như góp phần vào  cải thiện  chất lượng thực phẩm như bổ sung các vi lượng thiết yếu (Tom W. Bruulsema  et al., 2012 .

Đánh giá khả năng thích nghi của một số giống sắn tại một số tỉnh thuộc vùng Đông Nam Bộ và Tây Nguyên
Thứ hai, 09/12/2013 | 10:39:39

Nghiên cứu chỉ số thích nghi và chỉ số ổn định của một số giống sắn nhằm xác định giống sắn có năng suất cao, thích hợp với một số tỉnh trồng sắn thuộc vùng Đông Nam Bộ và Tây Nguyên. Kết quả khảo nghiệm bộ giống sắn qua hai năm 2009 và 2010, cho thấy giống sắn KM140 đạt năng suất củ tươi trung bình cao nhất trên 5 điểm (38,98 tấn/ha), kế đến là KM98- 5 ( 36,80 tấn/ha ) cao hơn so với năng suất củ tươi của giống sắn đối KM94 (32,38 tấn/ha).

Nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón ở Việt Nam
Thứ hai, 09/12/2013 | 10:28:59

Việt Nam là một quốc gia nông nghiệp và về lâu dài vẫn dựa vào nông nghiệp, cho dù đóng góp của nông nghiệp (bao gồm cả nông, lâm, thủy sản) vào GDP chỉ  khoảng 20%. Đối với chúng ta, nông nghiệp không chỉ  là một ngành kinh tế  quan trọng, cung cấp lương thực, thực phẩm, nguyên liệu cho công nghiệp mà còn là chỗ dựa vững chắc cho công nghiệp hóa, đảm bảo an sinh xã hội. Các đợt khủng khoảng kinh tế vừa qua càng cho thấy điều đó.

Ứng dụng công nghệ vi sinh sản xuât chế phẩm vi sinh và phân hữu cơ vi sinh
Thứ hai, 09/12/2013 | 10:26:16

Công nghệ vi sinh đã đóng góp cho nền nông nghiệp thế giới những thành tựu to lớn, trở thành một trong những ngành mũi nhọn tham gia giải quyết các mục tiêu bảo vệ tài nguyên đất đai và nâng cao độ phì nhiêu, tăng năng suất cây trồng và chất lượng nông sản.

Nghiên cứu phát triển phân bón vi sinh vật ở Việt Nam
Thứ hai, 09/12/2013 | 10:08:49

Phân bón VSV được sản xuất bằng cách phối trộn sinh khối VSV ở một mật độ nhất định vào chất mang vô trùng hoặc không vô trùng. Trong thời gian qua, nhiều cơ quan nghiên cứu, doanh nghiệp đã nghiên cứu và triển khai thành công các quy trình sản xuất phân VSV cố định nitơ, phân VSV phân giải lân, phân VSV hỗn hợp và phân VSV chức năng trên nền chất mang khử trùng hoặc không khử trùng.

Hiện trạng và giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về phân bón
Thứ hai, 09/12/2013 | 09:59:25

Trong bối cảnh biến động chung của nền kinh tế, phân bón-loại vật tư thiết yếu  phục vụ  ngành trồng trọt luôn biến động về  giá  và nguồn cung đã tác động rất lớn đến sản xuất.  Lợi dụng lúc giá phân bón biến động ở mức cao, một số doanh nghiệp  sản xuất và kinh doanh  đã đưa ra thị trường  nhiều  loại phân bón kém chất lượng, phân bón giả gây thiệt hại cho người nông dân, làm ảnh hưởng tới sản xuất nông nghiệp  và tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh của thị trường phân bón trong nước.

Hiện trạng cung ứng và xuất nhập khẩu phân bón ở Việt Nam
Thứ hai, 09/12/2013 | 09:55:17

Theo dự báo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thì nhu cầu phân bón của cả nước trong năm 2013 sẽ đạt mức 10,3 triệu tấn so với mức khoảng 9,6 triệu tấn năm 2012. Trong đó, urea 2,0 triệu tấn; SA 850 nghìn tấn; phân Kali 950 nghìn tấn; DAP 900 nghìn tấn; phân NPK 3,8 triệu tấn và phân lân các loại 1,825 triệu tấn.

Sản xuất và sử dụng phân bón lá ở Việt Nam
Thứ hai, 09/12/2013 | 09:50:02

Phân bón lá được sử  dụng  ở  Việt Nam từ  đầu những năm 1980 của  thế  kỷ  trước, tuy nhiên phải đến năm  2000, thuật ngữ phân bón lá mới được chính thức đề cập trong các văn bản pháp qui của Nhà nước (Nghị  định số  113/2003/NĐ-CP ngày 07/10/2003  và các  thông tư,  quyết định của Bộ  Nông nghiệp và PTNT).

Phân tích chuỗi giá trị nho tỉnh Ninh Thuận
Thứ sáu, 06/12/2013 | 15:39:14

Nghiên cứu được thực hiện tại tỉnh Ninh Thuận từ tháng 12 năm 2011 đến tháng 6 năm 2012, với cách tiếp cận là vận dụng lý thuyết “Liên kết chuỗi giá trị - ValueLinks” (2007) của Eschborn GTZ (Deutsche Gesellchaft für Technische Zusammenarbeit-Đức)

Quản lý tổng hợp bệnh thối gốc trên cây Tiêu do nấm Phytophthora capsici
Thứ sáu, 06/12/2013 | 12:37:02

Bệnh thối gốc do nấm Phytophthora capsici là một trong những trở ngại chính trong sản xuất hồ tiêu tại Ấn Độ. Những giống năng suất cao nhạy cảm với bệnh này. Nhiều nghiên cứu đã tiến hành để quản lý tổng hợp về bệnh này. Hai thí nghiệm ngoài đồng được thực hiện trong giai đoạn 1999-2001 tại trạm nghiên cứu rau hoa quả ở Ấn Độ. Thí nghiệm trên giống tiêu Paniyur-1, gồm 10 nghiệm thức và 4 lần lặp lại.

Kinh nghiệm xử lý rơm ở bang California, Mỹ
Thứ sáu, 22/11/2013 | 14:00:44

Các giải pháp xử lý rơm trên ruộng tại bang California của Mỹ đã thay đổi trong thập niên qua. Trước kia, cũng như dân trồng lúa đồng bằng sông Cửu Long, toàn bộ lượng rơm sau khi thu hoạch để vừa vệ sinh đồng ruộng, vừa dọn đất trống cho mùa vụ kế tiếp. Năm 1989, khi 95% diện tích 162.000 ha lúa (400.000 acres) ở bang California đều được tiến hành đốt đồng đã gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.

Nghiên cứu biến động di truyền trên quần thể lai hồi giao của giống chống chịu độ độc của sắt trên cây lúa (ORYSA SATIVA . L ).
Thứ hai, 25/11/2013 | 18:34:16

Độ độc sắt có thể làm giảm nghiêm trọng năng suất hạt. Trong đất phèn trồng lúa ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, độ độc sắt được xem là yếu tố hạn chế chính, cùng với hàm lượng hữu cơ cao, phản ứng với ion sắt trong điều kiện đất ngập nước. Trong điều kiện canh tác cây trồng cạn, thí dụ lúa được canh tác trên đất có điều kiện thoáng khí, rất khó tìm hiện tượng ngộ độc do sắt (Quijano và Mendoza, 1994).

Chiến lược lai tạo lúa cho vùng khó khăn ở đồng bằng Sông Cửu Long
Thứ sáu, 22/11/2013 | 14:00:05

Các vùng đất trồng lúa  khó khăn ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có xu hướng mở rộng diện tích và gia tăng mức độ khó khăn trong tương lai. Vạch ra các chiến lược đúng là yếu tố quan trọng cho việc lai tạo các giống lúa cho vùng khó khăn, đáp ứng nhu cầu lương thực ngày càng tăng trong điều kiện các nguồn tài nguyên ngày càng khan hiếm, suy thoái.

Duy trì và bảo tồn nguồn gen lúa hoang tại đồng bằng Sông Cửu Long
Thứ sáu, 22/11/2013 | 13:59:08

Theo Sharma (1973) bao gồm 28 loài và loài phụ, phân bố chủ yếu ở vùng xích đạo, chúng gồm 2 loại hình lâu năm và hàng năm có chiều cao từ 30 đến 200cm. Dựa trên cơ sở phân tích sự tiến hóa của loài có thể chia thành 3 nhóm loài.

Quá trình diễn biến, thực trạng và xu thế cơ cấu giống Lúa ở Việt Nam
Thứ hai, 25/11/2013 | 18:33:17

Năng suất lúa bình quân cả nước cuối thế kỷ 19 có khoảng 1 tấn/ha. Đến nay, qua gần 1 thế kỷ rưỡi, ta đạt tới 5-6 tấn/ha, do ngày một cải thiện điều kiện sản xuất, bao gồm vốn đầu tư “đầu vào” cho việc đổi mới công nghệ sản xuất, dùng giống cao sản và tăng đầu tư phân hóa học và thuốc sát trùng, trên cơ sở cơ chế chính sách ngày một hợp lý.

Cải tiến giống lúa phẩm chất gạo tốt - Tiếp cận chiến lược mới
Thứ sáu, 22/11/2013 | 11:00:52

Năm 2000, Chính phủ ban hành Nghị Quyết 09 định hướng các nội dung để tăng khả năng cạnh tranh của nông lâm sản, mở rộng thị trường. Năm 2001, Chính phủ ra Quyết định 80 về liên kết theo hợp đồng giữa người sản xuất và các doanh nghiệp, nhằm khắc phục tình trạng chia cắt giữa sản xuất, thu mua, chế biến và thị trường. Đại Hội Đảng IX (tháng 4/2001) đề ra nhiệm vụ đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn.

Nghiên cứu bệnh ghẻ củ Khoai Tây do Streptomyces Scabies và đánh giá khả năng kháng của một số dòng/giống Khoai Tây
Thứ tư, 17/02/2016 | 08:40:57

Xạ khuẩn Streptomyces scabiei (Thaxter) Lambert và Loria (syn. S. scabies) là tác nhân chính gây bệnh ghẻ thường, là loại bệnh hại có sự phân bố rộng và gây hại kinh tế quan trọng trong sản xuất khoai tây. Tiến triển trong công tác chọn giống kháng bị cản trở bởi sự giới hạn của biểu hiện tính kháng. Tuy vậy giống kháng có thể là biện pháp tốt nhất và dễ dàng nhất chống lại bệnh ghẻ thường.

Đơn vị thành viên
Liên kết đối tác

Viện Khoa Học Kỹ Thuật Nông Nghiệp Miền Nam
Địa chỉ: 121 Nguyễn Bỉnh Khiêm, P. Tân Định, TP.HCM
Điện thoại: 028. 38234076 –  38228371
Website : http://iasvn.org - Email: iasvn@vnn.vn