Kết quả đánh giá đặc điểm nông sinh học và khả năng kết hợp của một số dòng bố mẹ Lúa lai hai dòng
Nghiên cứu do các tác giả: Phạm Văn Thuyết – Cục Trồng trọt, Bộ Nông nghiệp và PTNT; Trần Thị Huyền – Viện Nghiên cứu và Phát triển cây trồng, Học viện Nông nghiệp Việt Nam; Trần Văn Quang – Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam thực hiện.

Ảnh: Sưu tầm.
Từ năm 1998 Việt Nam đã nhập nội một số tổ hợp lúa lai hai dòng, các tổ hợp này đều cho năng suất cao, chống chịu khá với sâu bệnh hại. Tuy nhiên, diện tích chưa được mở rộng là do giá hạt lai khá cao, không phù hợp điều kiện người nông dân; công nghệ nhân dòng mẹ và sản xuất hạt lai F1 còn gặp nhiều khó khăn (Cục Trồng trọt, 2014). Để chủ động sản xuất giống tại chỗ với giá thành hạ, các nhà chọn giống Việt Nam đã nghiên cứu và chọn tạo nhiều tổ hợp lai mới, trong đó có các tổ hợp lai hai dòng: Việt lai 20, TH3-3, Th3-4, HYT102… Các tổ hợp này có năng suất chất lượng khá, thời gian sinh trưởng ngắn nên diện tích ngày càng được mở rộng (Nguyễn Thị Trâm, 2010).
Để công tác chọn tạo giống lúa lai hai dòng đạt hiệu quả tốt, cần phải có được các vật liệu bố mẹ mới phù hợp với điều kiện trong nước, có đặc điểm nông sinh học tốt, khả năng kết hợp cao, ổn định và dễ sản xuất hạt lai (Nguyễn Văn Hoan, 2006). Các dòng bất dục đực di truyền nhân mẫn cảm nhiệt độ (TGMS) mới do Viện Nghiên cứu và Phát triển cây trồng chọn tạo (Phạm Văn Thuyết và cs, 2015) được lai với một số dòng bố trong tập đoàn công tác của Viện nhằm đánh giá khả năng kết hợp của chúng, tuyển chọn được các tổ hợp lúa lai ưu tú phát triển sản xuất.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, các dòng bố mẹ có nhiều đặc điểm nông sinh học tốt như thời gian sinh trưởng 127-140 ngày, số lá trên thân chính 14-16 lá, nhiễm nhẹ sâu bệnh, có năng suất cá thể khá cao. Con lai F1 của các dòng bố mẹ có thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất 55,0-70,0 tạ/ha, nhiễm nhẹ sâu bệnh, có chất lượng khá (tỷ lệ gạo xát 60,0-75,0%, tỷ lệ gạo nguyên 44,0-66,0% và hạt thon dài). Dòng mẹ E13S có khả năng kết hợp chung cao về số bông/khóm, số hạt chắc/bông và năng suất thực thu. Dòng bố R11 có khả năng kết hợp chung cao về số bông/khóm, dòng bố R2 có khả năng kết hợp chung cao về số hạt chắc/bông và năng suất thực thu. Dòng mẹ E30S và dòng bố R2 có khả năng kết hợp riêng cao về số bông/khóm và năng suất thực thu. Dòng mẹ E17S và dòng bố R527 có khả năng kết hợp riêng cao về số hạt chắc/bông, khối lượng 1000 hạt và năng suất thực thu.
lntrang - Canthostnews, theo TC Nông nghiệp và PTNT
Số lần xem: 2450












