Phát triển kinh tế carbon thấp: Hướng tới nền nông nghiệp xanh và bền vững

Ngày cập nhật: 07 tháng 11 2025
Chia sẻ

PGS.TS Mai Văn Trịnh - Viện trưởng Viện Môi trường Nông nghiệp cho rằng, khi carbon trở thành một loại “tài sản” có thể đo đếm và giao dịch, nông nghiệp Việt Nam cần nhanh chóng chuyển mình.

Dó đó, việc đầu tư vào công nghệ đo phát thải, mô hình tuần hoàn, và MRV chuẩn quốc tế sẽ là chìa khóa để Việt Nam khẳng định vị thế trong nền kinh tế xanh toàn cầu.

Rơm rạ và phụ phẩm vụ trước nên giữ lại trên đồng ruộng để tăng lượng hữu cơ cho đất. Ảnh: Minh Đảm.

Hiểu đúng về nông nghiệp carbon

Nông nghiệp carbon (carbon farming) là hình thức canh tác giúp hấp thụ nhiều khí nhà kính hơn lượng phát thải sinh ra, thông qua các biện pháp quản lý đất, cây trồng và vật nuôi thông minh. Khi làm đúng cách, nông dân không chỉ giúp bảo vệ môi trường mà còn có thể tạo ra "tín chỉ carbon” chuyển nhượng với các tổ chức, doanh nghiệp cần mua để bù đắp khí phát thải.

Không chỉ vậy, cách thực hành nông nghiệp carbon còn giúp cải thiện độ phì nhiêu và sức khỏe đất; giữ nước tốt hơn trong mùa khô; giảm chi phí phân bón và thuốc bảo vệ thực vật; tăng năng suất và ổn định năng suất; góp phần đa dạng sinh học và phát triển nông nghiệp bền vững; cải thiện chất lượng và bảo đảm an toàn thực phẩm.

Hiện nay, một số công ty công nghệ trên thế giới có khả năng hỗ trợ giám sát và mô hình hóa lượng carbon trong đất qua hệ thống vệ tinh, giúp giảm chi phí lấy mẫu và cung cấp bản đồ phân bố carbon chính xác. Đây là công cụ rất hữu ích cho các hợp tác xã hoặc doanh nghiệp nông nghiệp quy mô lớn đang muốn tham gia vào thị trường tín chỉ carbon quốc tế.

Người dân có thể thực hành nông nghiệp carbon bằng một số biện pháp dễ áp dụng trong sản xuất. Ví dụ như giữ đất luôn được che phủ: Không để đất trống giữa hai vụ mùa, có thể trồng cây họ đậu để vừa cố định đạm, vừa ngăn xói mòn và giữ carbon.

Người dân có thể giảm cày xới – giữ lại phụ phẩm cây trồng bằng cách hạn chế cày, xới đất sâu giúp bảo vệ cấu trúc đất và tránh mất carbon. Rơm rạ và phụ phẩm vụ trước nên giữ lại trên đồng ruộng để tăng lượng hữu cơ cho đất.

Đối với việc trồng xen, trồng gối vụ, có thể kết hợp trồng nhiều loại cây trồng bổ trợ cho nhau, giúp giảm sâu bệnh tấn công và cải thiện đa dạng sinh học.

Với mô hình nông lâm kết hợp, người dân trồng xen cây lâu năm với cây lương thực giúp giữ đất, hấp thụ khí CO₂ và tạo thêm nguồn thu. Đồng thời, cần giảm phân bón hóa học – tăng cường phân hữu cơ giúp giảm phát thải N₂O.

Ngoài ra, áp dụng công nghệ thông minh như sử dụng các công cụ số như phần mềm quản lý trang trại, công nghệ drone, cảm biến độ ẩm, bản đồ đất… để theo dõi và tối ưu hóa lượng nước, phân bón, nhiên liệu sử dụng và giảm thuốc bảo vệ thực vật.

Tuy nhiên, việc chuyển đổi sang nông nghiệp carbon đòi hỏi một số đầu tư ban đầu như: thiết bị, kiến thức mới, thay đổi thói quen canh tác. Ngoài ra, một số kỹ thuật như trồng cây che phủ hay nông lâm kết hợp có thể làm giảm sản lượng vụ đầu. Nhưng về lâu dài, sức khỏe đất được cải thiện tốt hơn, chi phí đầu vào thấp hơn và thu nhập từ tín chỉ carbon sẽ giúp người nông dân có sinh kế bền vững hơn.

Trên thế giới, nhiều quốc gia đã thành công trong việc kết hợp giữa sản xuất nông nghiệp và kinh tế carbon. Brazil đặt mục tiêu giảm 1 tỷ tấn CO₂e trong nông nghiệp vào năm 2030 thông qua mô hình luân canh cây trồng - vật nuôi, phát triển đồng cỏ hấp thụ carbon và duy trì độ che phủ đất. Tại Thái Lan, một số hợp tác xã trồng lúa giảm phát thải đã bán tín chỉ carbon trên thị trường tự nguyện với giá 5 - 7 USD mỗi tấn CO₂e kể từ năm 2023.

Các mô hình này cho thấy, khi được tổ chức bài bản và có hệ thống giám sát minh bạch, nông nghiệp không chỉ là nguồn phát thải, mà còn là ngành có khả năng hấp thụ và lưu trữ carbon hiệu quả, tạo ra giá trị kinh tế mới cho người sản xuất và cộng đồng.

Thực hiện 15 mô hình điểm

Theo TS. Nguyễn Tuấn Quang, Phó Cục trưởng Cục Biến đổi khí hậu, năm 2025 là cột mốc quan trọng khi Chính phủ phê duyệt Đề án thành lập thị trường carbon trong nước theo Quyết định 232/QĐ-TTg. Giai đoạn 2025–2028 sẽ là thời kỳ thí điểm, hướng tới vận hành chính thức sàn giao dịch carbon vào năm 2029. Thị trường này cho phép doanh nghiệp và tổ chức mua bán “tín chỉ carbon” – đơn vị tương đương với 1 tấn CO₂ giảm phát thải.

Ngành Nông nghiệp Việt Nam đặt mục tiêu phát triển xanh và bền vững thông qua việc triển khai thí điểm 15 mô hình sản xuất nông nghiệp carbon thấp vào năm 2035, tập trung vào các cây trồng chủ lực như lúa, mía và cà phê.

Theo Đề án “Sản xuất giảm phát thải trong lĩnh vực trồng trọt giai đoạn 2025 - 2035, tầm nhìn đến 2050” do Bộ Nông nghiệp và Môi trường công bố ngày 22/10, mục tiêu của ngành là giảm ít nhất 15% lượng phát thải khí nhà kính so với năm 2020.

Các mô hình sẽ được thí điểm tại hầu hết các tỉnh, thành, mỗi địa phương triển khai 1 - 2 mô hình sản xuất giảm phát thải phù hợp điều kiện tự nhiên, hướng tới thương mại hóa tín chỉ carbon trên thị trường quốc tế.

Tín chỉ carbon (carbon credit) là loại chứng chỉ giao dịch quốc tế, cho phép phát thải một tấn CO₂ hoặc lượng khí nhà kính tương đương. Khi lượng phát thải được cắt giảm, phần giảm này có thể quy đổi thành tín chỉ carbon để mua bán, tạo nguồn thu mới cho doanh nghiệp và nông dân.

Theo kiểm kê gần nhất, nông nghiệp Việt Nam phát thải khoảng 116 triệu tấn CO₂e, chiếm hơn 25% tổng lượng phát thải quốc gia. Trong đó, hoạt động trồng lúa, sử dụng phân đạm và đốt rơm rạ chiếm tới 80% phát thải toàn ngành. Do đó, cây lúa được xác định là trọng tâm trong chiến lược giảm phát thải giai đoạn tới.

Đề án cho thấy, nhiều mô hình trồng lúa phát thải thấp đã đạt kết quả tích cực. Tiêu biểu là chương trình phát triển 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp đang được triển khai ở đồng bằng sông Cửu Long. Nhờ áp dụng kỹ thuật tưới ngập khô xen kẽ (AWD), quản lý dinh dưỡng hợp lý và liên kết chuỗi giá trị, mô hình giúp giảm 30 - 45% lượng khí metan (CH₄), tiết kiệm 20 - 30% lượng nước tưới và tăng thu nhập 10 - 20% cho nông dân.

Ngoài lúa, mía và cà phê cũng là hai nhóm cây trồng được lựa chọn để áp dụng công nghệ canh tác carbon thấp. Với mía, người trồng được khuyến khích tăng tỷ lệ che phủ, tưới tiết kiệm và tái canh trên vùng đất già cỗi. Với cà phê, các giải pháp như trồng xen cây che bóng, sử dụng phân hữu cơ, tái canh bền vững và giữ ẩm bằng phụ phẩm nông nghiệp sẽ giúp tăng khả năng hấp thụ carbon trong đất và cải thiện năng suất.

Bên cạnh tiềm năng, việc phát triển nông nghiệp carbon thấp hiện còn gặp nhiều thách thức, đặc biệt là thiếu hệ thống đo lường - báo cáo - thẩm định (MRV) thống nhất để tính toán lượng phát thải được cắt giảm. Hiện các hướng dẫn kỹ thuật mới chỉ hoàn thiện cho cây lúa, trong khi các cây trồng khác như sắn, mía, cà phê vẫn đang trong quá trình xây dựng quy chuẩn.

Việc chưa có tiêu chí quốc gia về “trồng trọt phát thải thấp” cũng khiến quá trình lập kế hoạch, chứng nhận và thương mại hóa tín chỉ carbon gặp khó khăn. Để khắc phục, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đặt mục tiêu xây dựng hệ thống MRV quốc gia hoàn chỉnh, phục vụ kiểm kê khí nhà kính và vận hành cơ chế thị trường carbon nông nghiệp trong nước.

Cùng với đó, đề án sẽ xây dựng ít nhất 5 gói kỹ thuật giảm phát thải cho các cây trồng chủ lực, đồng thời đào tạo 3.000 cán bộ kỹ thuật, khuyến nông, nông dân và doanh nghiệp về các phương pháp canh tác, giám sát và chứng nhận tín chỉ carbon.

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, việc thúc đẩy 15 mô hình nông nghiệp carbon thấp đến năm 2035 là bước đi cụ thể để thực hiện cam kết phát thải ròng bằng “0” (Net Zero) vào năm 2050. Đồng thời, đây cũng là hướng đi giúp tái cấu trúc nền nông nghiệp Việt Nam theo hướng xanh, tuần hoàn và có trách nhiệm hơn với môi trường.

Thị trường tín chỉ carbon nông nghiệp không chỉ mở ra nguồn thu mới cho doanh nghiệp và nông dân, mà còn là động lực để Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh trong thương mại quốc tế, đáp ứng các tiêu chuẩn xanh đang ngày càng khắt khe từ các thị trường xuất khẩu lớn.

Hướng tới nền nông nghiệp carbon thấp

Trình bày tham luận tại buổi tập huấn nâng cao năng lực truyền thông báo chí về trung hòa carbon diễn ra tại Nghệ An vừa qua, PGS.TS Mai Văn Trịnh - Viện trưởng Viện Môi trường Nông nghiệp nhấn mạnh, việc nhận diện, đo đạc và quản lý phát thải khí nhà kính (KNK) là yêu cầu tất yếu nếu Việt Nam muốn hướng tới nền nông nghiệp xanh, bền vững và hội nhập quốc tế sâu rộng.

Nhiều lĩnh vực trong nông nghiệp có thể hướng tới cấp và giao dịch tín chỉ carbon.

Tại Việt Nam, sáu kỳ kiểm kê quốc gia về KNK đã được thực hiện, thể hiện rõ quyết tâm của Chính phủ trong việc minh bạch hóa dữ liệu phát thải và đáp ứng nghĩa vụ quốc tế về ứng phó với biến đổi khí hậu. Nông nghiệp chiếm tỷ lệ lớn trong tổng lượng phát thải quốc gia, chủ yếu đến từ canh tác lúa nước, chăn nuôi và sử dụng phân bón. Các khí chính bao gồm CO₂ từ đốt nhiên liệu, CH₄ từ ruộng lúa và tiêu hóa dạ cỏ, cùng N₂O từ bón phân đạm và chất hữu cơ.

Phát thải khí nhà kính không chỉ ảnh hưởng đến môi trường mà còn trực tiếp chi phối năng suất, chất lượng và uy tín của nông sản Việt Nam trong thương mại quốc tế. Các đối tác lớn như EU, Nhật Bản, Hoa Kỳ đều đặt tiêu chuẩn carbon làm hàng rào kỹ thuật. “Nếu không chủ động kiểm soát, nông nghiệp Việt Nam sẽ mất cơ hội trong chuỗi cung ứng toàn cầu”, PGS.TS Mai Văn Trịnh khẳng định.

Để giảm phát thải, các giải pháp cụ thể trong canh tác lúa được Viện Môi trường Nông nghiệp nghiên cứu và ứng dụng như: điều chỉnh chế độ nước (tưới khô ướt xen kẽ), bón phân hữu cơ hợp lý, tận dụng rơm rạ cho sản xuất phân compost hoặc than sinh học thay vì đốt bỏ. Mỗi giải pháp đều mang lại hiệu quả cắt giảm khí CH₄ từ 30-55%, đồng thời cải thiện độ phì nhiêu đất và giảm chi phí sản xuất.

Một hướng đi triển vọng là áp dụng mô hình kinh tế tuần hoàn trong sản xuất lúa, qua đó rơm rạ sau thu hoạch được tái chế thành nguyên liệu trồng nấm, phân hữu cơ hoặc biochar. Mô hình “CARICE” (Circular in Rice Production) do nhóm của PGS.TS Mai Văn Trịnh phát triển đã chứng minh khả năng giảm phát thải tới 40% so với phương thức canh tác truyền thống.

Theo PGS.TS Mai Văn Trịnh, đo đạc và báo cáo phát thải (MRV – Measurement, Reporting, Verification) không chỉ là yêu cầu kỹ thuật mà còn là “xương sống” của quản trị carbon hiện đại. Việc đo phát thải KNK hiện nay được thực hiện theo ba nhóm phương pháp: đo trực tiếp, tính toán theo hướng dẫn IPCC, và mô hình hóa.

Phương pháp đo trực tiếp được triển khai ngay trên đồng ruộng thông qua các buồng thu khí, thiết bị tự động hoặc hệ thống cảm biến theo dõi phát thải CO₂, CH₄ và N₂O. Đây là cơ sở để xác lập hệ số phát thải đặc trưng quốc gia, phục vụ cho các tính toán quy mô lớn. Cùng với đó, các mô hình mô phỏng khí hậu - đất - cây trồng giúp dự báo phát thải trong từng kịch bản canh tác, vùng sinh thái và điều kiện khí hậu khác nhau.

Đối với lĩnh vực lâm nghiệp, phương pháp “Tăng - Giảm” (Gain–Loss) được áp dụng để tính toán lượng carbon hấp thụ và mất đi. Khi rừng được bảo vệ, phục hồi hoặc trồng mới, lượng carbon tích lũy trong sinh khối cây và đất sẽ tăng; ngược lại, phá rừng hoặc cháy rừng sẽ làm phát thải mạnh. Đây là cơ sở khoa học cho việc xây dựng tín chỉ carbon lâm nghiệp - nguồn tài nguyên kinh tế mới của nông thôn.

PGS.TS Mai Văn Trịnh nhấn mạnh, Nghị định 119/2025/NĐ-CP vừa được ban hành, bổ sung và hoàn thiện khung pháp lý của Nghị định 06/2022/NĐ-CP, tạo hành lang vận hành thực chất cho thị trường carbon Việt Nam. Nghị định quy định rõ trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp trong việc kiểm kê, báo cáo phát thải, đồng thời khuyến khích các mô hình tự nguyện, sáng tạo trong giảm phát thải và hấp thụ carbon.

Theo PGS.TS Mai Văn Trịnh, “nếu làm tốt MRV và tham gia thị trường carbon, nông nghiệp Việt Nam không chỉ góp phần thực hiện cam kết Net Zero vào năm 2050, mà còn mở ra nguồn thu mới từ tín chỉ carbon, giúp nông dân và doanh nghiệp có thêm động lực đầu tư vào sản xuất xanh”.

Chanh - KTNT

Số lần xem: 42

Đơn vị thành viên
Liên kết đối tác

Viện Khoa Học Kỹ Thuật Nông Nghiệp Miền Nam
Địa chỉ: 121 Nguyễn Bỉnh Khiêm, P. Tân Định, TP.HCM
Điện thoại: 028. 38234076 –  38228371
Website : http://iasvn.org - Email: iasvn@vnn.vn