Nhằm hướng đến một nền nông nghiệp bền vững, an toàn, hiệu quả cho vùng ĐBSH đặc biệt trên đất úng trũng, Nguyễn Văn Bộ và ctv. đưa ra giải pháp xây dựng mô hình canh tác Lúa - Cá áp dụng cho những vùng đất ngập úng hàng năm không sản xuất lúa hay những vùng đất bán ngập úng theo mùa mưa chỉ chỉ cấy được một vụ lúa hay hai vụ lúa, tận dụng tiềm năng thế mạnh của vùng như dân số đông, có trình độ thâm canh lúa, cần cù, địa hình úng trũng, nguồn vốn dồi dào trong nông dân ...
Việc chuyên canh 2-3 vụ lúa/năm đã nẩy sinh những bất cập như: Tiêu tốn quá nhiều nước tưới, đất đai thoái hóa nhanh, áp lực sâu bệnh ngày càng nặng nề hơn. Hơn thế nữa, canh tác lúa liên tục trên cùng diện tích tạo điều kiện thuận lợi cho sâu bệnh lưu chuyển từ vụ này sang vụ khác rất dễ dàng, nên không thể cắt được nguồn bệnh lây lan. Chính vì vậy, biện pháp sử dụng thuốc BVTV bắt buộc phải gia tăng, vừa tốn kém vừa ô nhiễm môi trường. Biện pháp luân canh cây lúa với cây màu như ngô, đậu tương, lạc, rau củ quả,... là giải pháp tốt nhất vừa giảm thiểu lượng nước tiêu thụ, hạn chế thoái hóa đất và áp lực sâu bệnh cho cây trồng trên hệ canh tác.
Nghiên cứu chọn tạo lúa thơm trong nước bước đầu đạt một số thành công, các giống lúa thơm cải tiến: Tám thơm đột biến, Tám xoan đột biến, Hương cốm, OM4900, TP5, TP8, ST3, ST5, lúa lai thơm HYT100 ... được chọn tạo và đưa vào sản xuất. Cùng xu hướng này Trần Tấn Phương và cộng tác viên thực hiện lai tích lũy tính thơm từ 6 vật liệu bố mẹ thơm, đa dạng về thời gian sinh trưởng, kiểu cây, dạng hạt, khả năng chống chịu ... với mục tiêu là tạo được các giống lúa thơm cải tiến ngắn ngày, năng suất cao, chất lượng tốt thích ứng với điều kiện Việt Nam.
Trong những đặc tính lý hoá liên quan tới chất lượng gạo thì mùi thơm là một trong những đặc tính quan trọng. Chất thơm trong lúa có tới hơn một trăm hợp chất dễ bay hơi như hydrocarbons, alcohol, aldehydes, ketones, acid, esters, phenols, pyridines, pyrazines và những hợp chất khác (Yajima và cộng sự, 1978). Trong đó chất 2 - acetyl - 1 - pyrroline (2AP) được xem là hợp chất quan trọng nhất tạo mùi thơm ở tất cả các giống lúa, nhất là 2 giống Basmati và Jasmine (Buttery và cộng sự, 1982; 1983).
Với những lợi thế đất đai, thời tiết khí hậu và hiệu quả kinh tế so với một số ngành nghề khác, nghề trồng dâu nuôi tằm đã được mở rộng và phát triển một cách đáng kể. Tuy nhiên, đi đôi với việc mở rộng diện tích, đầu tư thâm canh đưa các giống dâu mới năng suất cao chịu phân bón vào sản xuất đại trà đã dẫn đến sự bùng phát và gây hại nghiêm trọng của một số loài sâu bệnh như: Sâu cuốn lá dâu, sâu khoang, sâu róm....
Bưởi Đường lá cam là giống bưởi ngon, được trồng phổ biến ở Đồng Nai và một số tỉnh miền Đông Nam bộ. Đây là giống đã đạt nhiều giải trong các kỳ hội thi trái ngon. Cây đầu dòng, cá thể mang mã số BC12 của giống này đã được BộNông nghiệp & PTNT công nhận theo Quyết định số2767/NN - KHCN/QĐ, ngày 29/10/1997.
Cây bơ là loài cây hai lá mầm, tên khoa học là Persea americana Mills. thuộc họLauraceae (long não), nguồn gốc vùng nhiệt đới Trung Mỹ và đã được phát tán tới phía Nam nước Mỹ, tới quần đảo Antilles và nhiều quốc gia khác như: Colombia, Venezuela,... Có liên quan đến họ này là cây quế (Cinanmon), cây dẻ(Sasafras) và cây hồng ngọt (Sweet bay).
Bưởi da xanh là loại trái cây đặc sản nổi tiếng ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) và được phát triển tại nhiều vùng sinh thái khác nhau do hiệu quả kinh tế mang lại cao. Tuy nhiên, nguồn nước bị nhiễm mặn đang là trở ngại lớn cho việc phát triển cây bưởi vùng ĐBSCL. Đối với đất bị nhiễm mặn thì việc cải tạo đất và cải thiện chất lượng nguồn nước tưới luôn là biện pháp canh tác quan trọng nhưng không phải lúc nào cũng mang lại hiệu quả kinh tế.
Theo Hiệp hội Cao su Việt Nam cho biết, hiện cao su là mặt hàng nông sản có kim ngạch xuất khẩu lớn thứ 2 của Việt Nam (sau gạo). Riêng năm 2006, cao su thiên nhiên xuất khẩu của Việt Nam (bao gồm cảnguồn cao su thiên nhiên nhập khẩu từ các nước láng giềng) đã đạt sản lượng gần 708.000 tấn, với tổng giá trị xấp xỉ 1,3 tỷUSD.
Nghiên cứu của các nhà khoa học ở Việt Nam cũng như trên thế giới đã chỉ ra được vai trò của việc bón kết hợp giữa phân hữu cơ và phân khoáng đối với cây trồng (đặc biệt đối với cây trồng trên đất bạc màu). Tuy nhiên những nghiên cứu đó chưa chỉ ra được mối quan hệ giữa phân bón và việc vùi lại phụ phẩm nông nghiệp cây trồng vụ trước cho cây trồng vụ sau, việc trả lại phụ phẩm nông nghiệp cây trồng vụ trước cho cây trồng vụ sau trong nhiêu năm sẽ có tác dụng như thế nào đối với năng suất nông sản và độ phì nhiêu của đất bạc màu.












