Ở Việt Nam, sắn cùng lúa và ngô là ba cây trồng được ưu tiên nghiên cứu phát triển trong tầm nhìn chiến lược đến năm 2020 của Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn. Năm 2013, diện tích trồng sắn toàn quốc đạt 544,30 ngàn ha, năng suất củ tươi bình quân 17,89 tấn/ha, sản lượng 9,74 triệu tấn (FAOSTAT, 2014). So với năm 2000, sản lượng sắn Việt Nam đã tăng gấp 3,93 lần, năng suất sắn đã tăng lên gấp hai lần.
Trong vòng 4 năm gần đây, Việt Nam nhập siêu lượng ngô tăng liên tục từ 1,6 triệu tấn (năm 2011) lên đến 2,26 triệu tấn (năm 2013) và đến 15/11/2014 đã nhập 3,875 triệu tấn, kim ngạch nhập khẩu từ 326,3 triệu đô la (năm 2011) và 1.002,1 triệu đô la (năm 2014) (AGROINFO, 2014; Tổng cục Hải quan, 2014) để đáp ứng nhu cầu chế biến thức ăn chăn nuôi (6,4-7 triệu tấn/năm, chiếm 90%) (MARD, 2014) vì lượng cung ngô từ sản xuất nội địa không đáp ứng đủ (4,8-5,2 triệu tấn/năm).
Ở Việt Nam, sắn là một trong số những cây lương thực quan trọng sau lúa và ngô. Để nâng cao năng suất và chất lượng của sắn, đánh giá đa dạng di truyền về các tính trạng chọn lọc của các quần thể làm nguyên liệu lai tạo phải được ưu tiên hàng đầu. Trong nghiên cứu này, 44 giống đại diện trong tập đoàn sắn của Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp Hưng Lộc
Ở Việt Nam, sắn được trồng chủ yếu trên đất nghèo dinh dưỡng. Hàng năm, nông dân thu hoạch củ và thân lá sắn đã lấy đi từ ruộng sắn một lượng lớn các chất dinh dưỡng của đất nhưng không bón đủ các chất dinh dưỡng này trả cho đất. Vì thế, đất trồng sắn đã nghèo dinh dưỡng lại ngày càng nghèo và thiếu hụt dinh dưỡng hơn.
SSR markers (chỉ thị) đã được sử dụng để nghiên cứu sự khác biệt di truyền với 52 giống lúa khác nhau. Trong số 54 mồi SSR, 24 mồi được sao chép với tổng số là 180 băng, trong đó có 59 alen là đa hình. Số lượng trung bình các mảnh gien được khuếch đại bằng marker SSR (kích thước 190 bp đến 320 bp). Sản phẩm của PCR cho tỷ lệ biến động từ 90% tới 100%.
Thí nghiệm được thực hiện tại phòng phân tích di truyền phân tử, nhà lưới và ngoài đồng ruộng của Việ Lúa đồng bằng sông Cửu Long. Nội dung nghiên cứu gồm có: Nghiên cứu đánh gái kiểu gien thông qua chỉ thị phân tử SSR; tạo các quần thể hồi giao của hai tổ lai AS996/N22//AS996 để ổn định gien chịu nóng của nguồn cho vào các giống lúa làm nguồn nhận
Giống sắn HL- S11 có nguồn gốc chọn lọc từ tổ hợp lai (SM937-26 x KM60), được khảo nghiệm sinh thái và khảo nghiệm sản xuất tại các tỉnh vùng Đông Nam bộ và Tây Nguyên từ 2007 đến nay. Giống sắn HL- S11có thời gian sinh trưởng 10- 11 tháng, số củ trung bình 6- 8 củ, dạng thân thẳng, thân màu nâu vàng, nhặt mắt, thịt củ trắng, hàm lượng tinh bột 28,5- 30 %, năng suất trung bình 44-50 tấn/ha, vượt so với giống đối chứng KM140 từ 11- 12%, vượt so với đối chứng KM94 từ 17- 18%. Giống sắn HL- S11 có khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, nhặt mắt, thích nghi rộng đối với vùng Đông Nam Bộ và Tây Nguyên.
Đồng Tháp Mười (ĐTM) có diện tích tự nhiên là 696.949 ha, gồm 5 nhóm đất chính: đất phù sa chiếm 34,71%, đất xám 16,10%, đất cát 0,51%, đất than bùn 0,02%, đất phèn 39,27% (Phan Liêu, 1998). Trong đó, đất xám có tiềm năng rất lớn về quy mô diện tích và tính phù hợp trong việc sắp xếp mùa vụ luân canh vừng với lúa. Phân tích tổng hợp các yếu tố tiềm năng về khí hậu, đất đai, nguồn lao động…nơi đây có thể trở thành vùng sản xuất vừng lớn theo hướng hàng hóa của vùng.
Điều là cây công nghiệp quan trọng có giá trị xuất khẩu cao sau lúa, cao su và cà phê ở Việt Nam. Những năm đầu của thế kỷ XXI, ngành điều phát triển vượt bậc trở thành một trong những ngành hàng xuất khẩu nông sản chủ lực của nước ta và đứng thứ nhất trong các nước xuất khẩu điều của thế giới. Giai đoạn từ 1995 - 2000 năng suất điều bình quân đạt thấp khoảng 5 tạ hạt/ha; cao nhất là năm 2005 đạt 10,1 tạ hạt/ha, giai đoạn từ 2006 - 2013 biến động từ 8,5 - 9,5 tạ hạt/ha. Năm 2014 năng suất điều tăng lên rất đáng kể đạt 11,71 tạ hạt/ha, tăng 24,4 % (2,30 tạ/ha) so với năm 2013, năng suất điều bình quân cao nhất từ trước đến nay và là nước có năng suất điều cao trên thế giới.
Hiện nay, hàng năm Việt Nam nhập khẩu lượng ngô lớn dùng làm thức ăn chăn nuôi vì khả năng cung cập ngô trong nước không đáp ứng đủ. Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN & PTNT), cả năm 2014 Việt Nam đã nhập hơn 4,6 triệu tấn ngô, giá trị 1,2 tỉ đô la Mỹ, tăng gấp 2,11 lần về lượng và gần 1,8 lần về giá trị so với cùng kỳ năm 2013. Theo quy hoạch của Bộ NN & PTNT (2013), Việt Nam chuyển đổi 80 ngàn ha ngô từ đất lúa kém hiệu quả vào năm 2015 và phấn đấu đạt 150 ngàn ha vào năm 2020.
Phân lân là một loại phân đa lượng có ý nghĩa quan trọng đối với vừng, giúp cây sinh trưởng phát triển bộ rễ, thân và đặc biệt là quá trình ra hoa và đậu trái, nâng cao chất lượng hạt. Tuy nhiên, là cây trồng cạn, thời gian sinh trưởng ngắn nên vừng cần được quan tâm đến loại phân lân dễ tiêu, chứa nhiều chất dinh dưỡng khác để cung cấp kịp thời cho cây. Trong thực tế, người dân phổ biến dùng DAP để cung cấp lân cho cây. Với thành phần chủ yếu là đạm (18%), lân (46%) và là loại phân dễ tan, dễ bón nên phân DAP bước đầu được ưu tiên sử dụng.
Các nghiên cứu về mật độ gieo thường khuyến cáo theo số lượng giống gieo trên đơn vị diện tích, tuy nhiên đặc biệt đều chú trọng đến khoảng cách xác lập cuối thời kỳ cây con. Theo Pornparn (2001), lượng hạt giống vừng được gieo sạ ở Thái Lan khá cao từ 6-12 kg/ha nhưng sau khi tỉa định cây chỉ để khoảng 200.000 cây/ha. Ở Mỹ, mật độ trồng được khuyến cáo từ 600.000 - 720.000 cây/ha áp dụng cho phương pháp gieo bằng máy.
Vừng (Sesamum indicum L.) là cây thân thảo hàng năm, được trồng ở Việt Nam từ rất lâu đời. Vừng có tính chịu hạn, thích nghi tốt với điều kiện khí hậu, đất đai nên có vùng phân bố rộng khắp cả nước. Hạt vừng có nhiều giá trị dinh dưỡng, đặc biệt hàm lượng dầu cao trong hạt (50 tới trên 60 %), chất lượng dầu tốt và có chứa các chất chống oxy hóa. Hiện tại cây vừng được trồng rộng rãi trên thế giới như: Trung Quốc, Ấn Độ, các nước Châu Phi, Mỹ và các nước Nam Mỹ.
Sự đa dạng cùa 225 mẫu dòng lúa mùa Một Bụi Lùn được đánh giá bằng phương pháp microsatallite và phương pháp đánh giá hình thái. Mục tiêu của đề tài là đánh giá sự đa dạng di truyền của giống lúa mùa Một Bụi Lùn tại Cà Mau; phân tích mối tương quan của các đặc tính nông học để ứng dụng trong việc chọn tạo giống lúa thuần.
Mè (Sesamum indicum L.) còn gọi là vừng, là loại cây có dầu, cây thực phẩm hiện đang được rất nhiều quốc gia quan tâm và có định hướng phát triển do có hàm lượng dầu cao, chất lượng tốt. Cây mè có thời gian sinh trưởng ngắn, thuận lợi trong tiêu dùng ở phạm vi nông hộ, đồng thời cũng là cây trồng “dễ tính”, ít đòi hỏi thâm canh, có khả năng tận dụng đất đai, mùa vụ, dễ tiêu thụ trên thị trường, thích hợp luân, xen canh và gối vụ.
Vùng Nam Bộ có 5 tầng chứa nước chính theo thứ tự từ trẻ đến già gồm: tầng chứa nước Pleistocene thượng (qp3), tầng chứa nước Pleistocene trung-thượng (qp2-3), tầng chứa nước Pleistocene hạ (qp1), tầng chứa nước Pliocene trung (n22), tầng chứa nước Pliocene hạ (n21). Trên cơ sở kết quả quan trắc tài nguyên nước dưới đất năm 2013 năm 2014, diễn biến tài nguyên nước dưới đất được phân tích, đánh giá để dự báo cho tháng 12/2014 và tháng 1/2015.
Vùng Tây Nguyên gồm có 4 tầng chứa nước chính. Theo thứ tự từ trẻ đến già gồm: tầng chứa nước lỗ hổng bồi tích hiện đại (Q), tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pleistocen giữa (βQII), tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pliocen-Pleistocen dưới (βN2-QI) và tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng vỉa các thành tạo đầm hồ trầm tích Neogen (N)
Khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên gồm 13 tỉnh và thành phố: Vùng Nam Trung bộ: 8 tỉnh: Thành phố Đà Nẵng, tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận; Vùng Tây Nguyên: 5 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng. Toàn vùng có tổng diện tích tự nhiên là 99.016,51 km2, dân số đến 31/12/2013 là 14.524.325 người (trong đó dân tộc thiểu số chiếm khoảng 14,9% còn lại là người Kinh), chiếm 29,92% về diện tích và 16,19% về dân số so với cả nước.
Trên thế giới, ngô (Zea may L.) được xem là một trong những cây ngũ cốc quan trọng. Ở Việt Nam, ngô là loại cây lương thực quan trọng chỉ đứng thứ hai sau cây lúa. Vùng Tây Nguyên có điều kiện đất đai, khí hậu và thổ nhưỡng rất thích hợp cho cây ngô, tuy nhiên các giống ngô ở Tây Nguyên vẫn chưa phát huy được hết tiềm năng do hạn và bệnh, nổi bật nhất là bệnh gỉ sắt.
Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề của thiên tai và biến đổi khí hậu. Trongcác loại thiên tai, bão và lũ lụt là thường xuyên và nguy hiểm nhất. Theo ước tính, trung bình mỗi năm Việt Nam phải chịu từ 6 đến 7 cơn bão.
Phân tích 310 dòng BC2F2 của tổ hợp lai OM5930/N22 trổ bông trong điều kiện nóng. Từ đó, bản đồ di truyền được tạo ra nhờ 264 chỉ thị SSR đa hình để phát hiện liên kết giữa chỉ thị và tính trạng nghiên cứu. Kết quả ghi nhận số chỉ thị của bản đồ phủ trên 2.741,63 cM với khoảng cách trung bình giữa hai chỉ thị là 10,55 cM.
Sắn (Manihot esculenta Crantz) là cây trồng quan trọng ở các nước có khí hậu nhiệt đới và có khả năng sản xuất lượng carbonhydrate cao nhất trong số các cây lương thực. Tổ chức Nông lương thế giới (FAO) xếp cây sắn vào thứ tư của cây lương thực ở các nước đang phát triển sau lúa gạo, ngô và lúa mì.
Nghiên cứu tập trung phân tích ngành hàng trên 4 nhóm gạo xuất khẩu: KDM105, gạo 5% tấm, gạo 10% tấm và gạo 25% tấm. Với cách tiếp cận Phân tích ngành hàng (CCA: Commodity Chain Analysis) và sử dụng Ma trận phân tích chính sách (PAM: Policy Analysis Matrix) cho phép phân tích chuỗi giá trị trong ngành hàng và tác động của chính sách đến ngành hàng lúa gạo.
Trong những năm gần đây, Việt Nam trở thành quốc gia chiếm vị trí số một về xuất khẩu tiêu. Nhưng liệu sản xuất - chế biến - xuất khẩu hồ tiêu có hiệu quả hay không? Việc xuất khẩu hồ tiêu mang ngoại tệ về cho quốc gia thực sự có hiệu quả? Với phương pháp phân tích lợi ích – chi phí (BCA: Benefiti-Cost Analysis).
Đề tài nghiên cứu “Nghiên cứu mối quan hệ giữa sản xuất, chế biến và thị trường tiêu thụ sản phẩm điều”, được tiến hành tại vùng điều Đông Nam Bộ gồm 2 tỉnh trồng điều chủ yếu là Đồng Nai và Bình Phước, trong năm 2005. Tiến hành điều tra tình hình sản xuất của nông hộ và tình hình thu mua của các hộ thu gom, đồng thời tiến hành phân tích mối quan hệ giữa sản xuất và chế biến tiêu thụ hạt điều.
Nhằm hướng đến một nền nông nghiệp bền vững, an toàn, hiệu quả cho vùng ĐBSH đặc biệt trên đất úng trũng, Nguyễn Văn Bộ và ctv. đưa ra giải pháp xây dựng mô hình canh tác Lúa - Cá áp dụng cho những vùng đất ngập úng hàng năm không sản xuất lúa hay những vùng đất bán ngập úng theo mùa mưa chỉ chỉ cấy được một vụ lúa hay hai vụ lúa, tận dụng tiềm năng thế mạnh của vùng như dân số đông, có trình độ thâm canh lúa, cần cù, địa hình úng trũng, nguồn vốn dồi dào trong nông dân ...
Việc chuyên canh 2-3 vụ lúa/năm đã nẩy sinh những bất cập như: Tiêu tốn quá nhiều nước tưới, đất đai thoái hóa nhanh, áp lực sâu bệnh ngày càng nặng nề hơn. Hơn thế nữa, canh tác lúa liên tục trên cùng diện tích tạo điều kiện thuận lợi cho sâu bệnh lưu chuyển từ vụ này sang vụ khác rất dễ dàng, nên không thể cắt được nguồn bệnh lây lan. Chính vì vậy, biện pháp sử dụng thuốc BVTV bắt buộc phải gia tăng, vừa tốn kém vừa ô nhiễm môi trường. Biện pháp luân canh cây lúa với cây màu như ngô, đậu tương, lạc, rau củ quả,... là giải pháp tốt nhất vừa giảm thiểu lượng nước tiêu thụ, hạn chế thoái hóa đất và áp lực sâu bệnh cho cây trồng trên hệ canh tác.
Nghiên cứu chọn tạo lúa thơm trong nước bước đầu đạt một số thành công, các giống lúa thơm cải tiến: Tám thơm đột biến, Tám xoan đột biến, Hương cốm, OM4900, TP5, TP8, ST3, ST5, lúa lai thơm HYT100 ... được chọn tạo và đưa vào sản xuất. Cùng xu hướng này Trần Tấn Phương và cộng tác viên thực hiện lai tích lũy tính thơm từ 6 vật liệu bố mẹ thơm, đa dạng về thời gian sinh trưởng, kiểu cây, dạng hạt, khả năng chống chịu ... với mục tiêu là tạo được các giống lúa thơm cải tiến ngắn ngày, năng suất cao, chất lượng tốt thích ứng với điều kiện Việt Nam.
Trong những đặc tính lý hoá liên quan tới chất lượng gạo thì mùi thơm là một trong những đặc tính quan trọng. Chất thơm trong lúa có tới hơn một trăm hợp chất dễ bay hơi như hydrocarbons, alcohol, aldehydes, ketones, acid, esters, phenols, pyridines, pyrazines và những hợp chất khác (Yajima và cộng sự, 1978). Trong đó chất 2 - acetyl - 1 - pyrroline (2AP) được xem là hợp chất quan trọng nhất tạo mùi thơm ở tất cả các giống lúa, nhất là 2 giống Basmati và Jasmine (Buttery và cộng sự, 1982; 1983).
Với những lợi thế đất đai, thời tiết khí hậu và hiệu quả kinh tế so với một số ngành nghề khác, nghề trồng dâu nuôi tằm đã được mở rộng và phát triển một cách đáng kể. Tuy nhiên, đi đôi với việc mở rộng diện tích, đầu tư thâm canh đưa các giống dâu mới năng suất cao chịu phân bón vào sản xuất đại trà đã dẫn đến sự bùng phát và gây hại nghiêm trọng của một số loài sâu bệnh như: Sâu cuốn lá dâu, sâu khoang, sâu róm....












