Dưa leo (Cucumis sativus L.) là một trong số những loại cây trồng nông nghiệp, được trồng rất phổ biến tại Việt Nam và một số nước trên thế giới. Tại Việt Nam, dưa leo đã được trồng từ rất lâu, không chỉ để giải quyết vấn đề thực phẩm trong bữa ăn hằng ngày mà còn mang tính thương mại quan trọng. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của cây trồng, các loại bệnh hại cũng không ngừng tăng, gây thiệt hại hết sức nặng nề, đặc biệt là bệnh do virus gây nên.
Metarhizium anisopliae từ lâu đã dược nhiều nước trên thế giới sử dụng như tác nhân sinh học phòng trừ nhiều loại cơn trùng. Mục tiêu của đề tài này là tuyển chọn chủng nấm Metarhizium anisopliae và khảo sát nồng độ gây bệnh cho thành trùng Cylas formicarius trong điều kiện phòng thí nghiệm. Côn trùng được nhúng với nồng độ nấm 1x107 bào tử/mi (bt/ml) để kiểm tra khả năng gây bệnh của tất cả các chủng nấm phân lập được. Sau 12 ngày nhúng, chủng G có hữu hiệu đạt 100%, chủng NX có độ hữu hiệu thấp nhất, chỉ đạt 53,33% theo công thức Abbott.
Thí nghiệm được thực hiện trong chậu trên nền đất sét đã được khử trùng để đánh giá ảnh hưởng của các loại phân hữu cơ đến sự kiểm soát của tuyến trùng nốt sưng trên cây cà tím trong điều kiện nàh kính tại Lâm Đồng. Thí nghiệm gồm 5 nghiệm thức sử dụng các loại phân hữu cơ có nguồn gốc khác nhau bao gồm: phần gà, phân dê, phân heo, phân bò, phân hữu cơ thương phẩm và 1 nghiệm thức đối chứng được bố trí theo phương pháp khối ngẫu nhiên, 3 lần lặp lại.
Si là thành phần chính cấu tạo nên đá và khoáng vật. Qua quá trình phong hóa một phần Si được giải phóng ra có thể chuyển thành axit silic (H2SiO4) trong dung dịch, một phận lại có thể biến thành keo silic; đặc biệt là trong điều kiện bazơ yếu, Si bị tách ra thành những kết tủa keo có công thức chung là SiO2.n(H2O). Những axit silic này sẽ kết hợp với những hydroxide hoặc muối tan của kim loại cũng vừa được giải phóng ra (do sự phong hóa) tạo thành những muối silicate; trong điều kiện bazơ yếu những axit silic tạo với K và Na thành những silicate hòa tan
Hồ tiêu được xem là một trong những sản phẩm nông nghiệp chính của Việt Nam. Theo thống kê của Sở NN&PTNT, năm 2012 tổng diện tích trồng hồ tiêu toàn tỉnh đạt 7.300 ha, sản lượng đạt 13.714 tấn, đứng thứ 6 cả nước về diện tích và thứ tư cả nước về sản lượng. Tuy nhiên, cũng như các ngành nông nghiệp khác, ngành hồ tiêu cũng phải đối mặt với các vấn đề về thiệt hại năng suất gây nên do dịch hại.
Qua điều tra tại vùng trồng nguyên liệu mía đường Lam sơn Thanh Hóa năm 2014 chúng tôi đã thu được 18 loài sâu hại thuộc 7 bộ và 15 họ côn trùng khác nhau. Trên cả 4 giống mía chúng tôi đều thấy xuất hiện bọ đuôi kìm ngay từ đầu vụ. Mật độ BĐK ở đầu vụ mía xuất hiện thấp trên cả 4 giống điều tra, mật độ tăng mạnh khi mía vào vươn lóng. Trên giống MY55-14 mật độ BĐK cao nhất vào tháng 6 (2,7 con/m2), thấp nhất vào tháng 1 (0,5 con/m2).
Bệnh hại là một trong những nguyên nhân hạn chế sự phát triển của cây thanh long tại Việt Nam. Cùng với việc đầu tư thâm canh ngày càng cao, sử dụng thuốc BVTV không hợp lý đã làm cho diễn biến bệnh hại trên cây thanh long ngày càng phức tạp. Bệnh thối trái thanh long do nấm Bipolaris cactivora là một trong những bệnh mới bùng phát từ những năm 2011 trở lại đây. Bệnh gây hại quanh năm trên cả những vườn ở giai đoạn kiến thiết cơ bản đến những vườn đã cho trái ổn định, gây thiệt hại năng năng suất khoảng 5 - 20%, thậm chí 70-80% nếu vườn thanh long không được quản lý bệnh tốt, đặc biệt vào giai đoạn cuối mùa mưa đầu mùa nắng.
Nấm là thực phẩm giàu chất dinh dưỡng, chứa nhiều protein, nhiều loại vitamin như vitamin B1, B2, PP,… và các axit amin thiết yếu, không gây xơ cứng động mạch và không làm tăng lượng cholesterol trong máu. Nấm còn có nhiều tác dụng dược lý khá phong phú như: tăng cường khả năng miễn dịch của cơ thể, kháng ung thư và kháng virus, ngăn ngừa và trị liệu các bệnh tim mạch, hạ đường máu, chống phóng xạ.
Lịch sử phát triển nông nghiệp ở mọi quốc gia đều gắn liền với lịch sử nghiên cứu đất và sử dụng phân bón. Sử sách đã ghi nhận, từ 3000 năm trước công nguyên Trung Quốc đã sử dụng chất hữu cơ bón ruộng. Ở Việt Nam, từ thế kỷ thứ II sau Công nguyên đã bắt đầu phân hạng ruộng đất để đánh thuế và ứng dụng chất hữu cơ trong canh tác (Lê Quý Đôn, 1773).
Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu xác định đặc điểm sinh học, sinh thái và đánh giá hiệu quả kiểm soát rệp vảy xanh của bọ rùa Chilocorus sp. Kết quả của đề tài xác định được khi nuôi bọ rùa Chilocorus sp. Trong phòng thí nghiệm bọ rùa Chilocorus sp. có tỷ lệ sống sót cao, khả năng sinh sản tốt. Các yếu tố sinh thái như mật độ nuôi, thuốc hóa học, tuổi cây, giống cây và cây che bóng trong vườn cà phê đều ảnh hưởng đến sự phân bố mật độ của bọ rùa Chilocorus sp.
Nghiên cứu từ dịch trích từ ba loại thự vật bao gồm sống đời (Kalanchoe pinnata), cỏ cứt heo (Ageratum conyzoides) và cỏ hôi (Eupatorium odoratum) được thực hiện trong điều kiện phòng thí nghiệm, nhà lưới và ngoài đồng đã xác định nồng độ của các loại dịch trích có khả năng kích thích cây lúa kháng được nhiều bệnh (Phan Thị Hồng Thúy, 2009; Phan Thị Hồng Thúy và Ctc, 2010; Hiệp Kỳ Dương, 2010; Nguyễn Khiết Tâm, 2010; Trần Thị Thu Thủy và ctv, 2014; Trần Thị Thu Thủy và ctv, 2015; Trần Thị Thu Thủy và Nguyễn Văn Phước, 2015).
Trong khoảng thời gian 40 năm sau ngày thống nhất đất nước, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam (IAS) với nhiệm vụ nghiên cứu phục vụ sản xuất nông nghiệp ở các tỉnh phía Nam đã có một số kết quả nghiên cứu và ứng dụng cho cây ngô. Giai đoạn từ 1975 đến 1990 các nghiên cứu tập trung vào cải thiện các giống ngô thụ phấn tự do với các giống ngô Thái sớm, Đà Lạt 11, HL24, HL31. Giai đoạn 1990 đến 2000 chủ yếu là các nghiên cứu chọn tạo các giống lai không qui ước, trong đó giống LS8, BL8 đã có đóng góp vào sản xuất ở những năm đó.
Ba mươi sáu chủng nấm đã được phân lập từ các mẫu đất và rễ tại những vườn tiêu ở Đắk Nông có biểu hiện vàng lá, sinh trưởng chậm, rễ có u sưng nhằm sàng lọc khả năng đối kháng của chúng đối với tuyến trùng Meloidogyne incognita. Trong số 21 chủng nấm thử nghiệm, 66,7% chủng có khả năng ký sinh tuyến trùng (trong đó: 23,8% kí sinh mạnh, 14,3% kí sinh trung bình và 28,6% KS yếu). Bốn chủng nấm Trichoderma C07, C22, DY16 và T7 có khả năng ký sinh cao lên trứng tuyến trùng Meloidogyne incognita trong điều kiện phòng thí nghiệm được tuyển chọn để nhân nuôi tạo chế phẩm và thử nghiệm khả năng đối kháng của chúng đối với tuyến trùng Meloidogyne incognita gây hại cây hồ tiêu con trong điều kiện nhà lưới.
Từ năm 2020, thế giới cần 500 triệu tấn gạo cho mỗi năm, để đạt được vấn đề này thì nhu cầu sản xuất phải đạt trung bình 5 tấn/ha. Mối đe dọa đối với người nông dân là sự thất thoát năng suất gây ra bởi các dịch hại (S. Zeigler, 2011). Trong canh tác lúa hiện nay, nông dân ở các nước như Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Nhật Bản, Hàn Quốc và nông dân các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) Việt Nam lo sợ nhất là rầy nâu Nilaparvata lugens Stal.
Sâu tơ (phutella xylostella) là một trong các đối tượng sâu hại chủ yếu trên cây rau họ hoa thập tự. Hàng năm sâu tơ gây tổn thất khoảng 30 – 50% năng suất. chi phí cho việc phòng trừ sâu tơ chiếm 20 - 40% tổng chi phí đầu tư cho cây bắp cải. Ở thành phố Hồ Chí Minh, chi phí cho phòng trừ sâu tơ chiếm khoảng 46,7% tổng số vốn đầu tư cho cây bắp cải (Nguyễn Quí Hùng và ctv, 1995).
Khả năng chống chịu Phytophthora capsici của năm giống hồ tiêu ở điều kiện thí nghiệm được đánh giá là khác nhau. Sau 12 ngày chủng trong điều kiện nhà lưới, kết quả ghi nhận giống tiêu Ấn Độ rất mẫn cảm Phytophthora capsici với tỉ lệ bệnh 37,4%, chỉ số bệnh 26,7%. Giống tiêu Trâu có khả năng chống chịu tốt nhất với tỉ lệ bệnh 17,3%, chỉ số bệnh 15,8%. Khi sàng lọc invitro, tỉ lệ bệnh và đường kính vết bệnh lần lượt ở các giống cũng khác nhau, Tiêu Ấn Độ cao nhất (100%, 18,2mm khi gây vết thương và 66,7%, 13,9mm không gây vết thương), Tiêu Trâu thấp nhất (50%, 13,4mm khi gây vết thương và 50,7%, 11,6mm không gây vết thương) sau 4 ngày chủng bệnh.
Rệp sắp bột hồng và bệnh chổi rồng trên khoai mì là những đối tượng gây hại nghiêm trọng trên cây khoai mì trong những năm gần đây trên địa bàn tỉnh Tây Ninh và những vùng có canh tác khoai mì. Kết quả của nghiên cứu này đưa ra thông tin về mối quan hệ giữa rệp sáp bột hồng và bệnh chổi rồng trên khoai mì, cũng như mức độ nhiễm phytoplasma từ triệu chứng chổi rồng.
Mục Tiêu:
- Tìm ra chế phẩm sinh học phù hợp và kỹ thuật áo vi sinh hiệu quả đảm bảo tỷ lệ vi sinh còn sống cao trong thành phẩm, nhằm tăng hiệu quả sử dụng phân đạm bằng biện pháp sinh học.
- Tạo ra phân bón Urea áo vi sinh có tác dụng nâng cao hiệu quả phân đạm và lân, tiết kiệm chi phí phân bón, tăng năng suất cây trồng và giảm tác động ảnh hưởng đến môi trường.
Bệnh đạo ôn do nấm Pyricularia grisea Sacc. gây ra là một trong những dịch hại quan trọng hầu hết các vùng trồng lúa trên thế giới và ngày càng trở nên khó kiểm soát hơn do ảnh hưởng của thâm canh trong sản xuất nông nghiệp. để định hướng quản lý bền vững bệnh đạo ôn cho vùng ĐBSCL, Viện Lúa đã triển khai nghiên cứu xác định độc tính nguồn nấm gây bệnh và các biện pháp quản lý tổng hợp hiệu quả.
Cây sắn (Manihot esculenta Crantz) là cây lấy củ được du nhập vào nước ta từ đầu thế kỷ 19. Sắn là cây lương thực chính của cư dân nhiều vùng, nhất là các vùng đồi núi. Quan niệm đối với sản xuất sắn đã có nhiều thay đổi, vì lợi ích mà nó mang lại với tương lai đầy hứa hẹn trong công nghiệp sản xuất tinh bột, thức ăn gia súc, chế biến tạo ra các sản phẩm như: cồn, đường, bột ngọt, tinh bột.
Điều tra thành phần loài tuyến trùng gây hại cây khổ qua tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu được thực hiện tại 18 ruộng trồng khổ qua trong mùa khô 2014-2015, tại mỗi ruộng điều tra lấy 3 mẫu đất và 2 mẫu rễ ở thời điểm trước trồng, bắt đầu thu hoạch và kết thúc thu hoạch. Kết quả phân tích mẫu đất đã ghi nhận được 17 loài hiện diện trong đất và 3 loài hiện diện trong rễ cây khổ qua.
Trên thế giới, khoai tây được xếp là cây lương thực-thực phẩm quan trọng hàng thứ ba, sau lúa nước, lúa mì, với tổng diện tích năm 2005 đạt 20 triệu hecta, tổng sản lượng 320 triệu tấn và mức tăng trưởng trung bình 2,02% mỗi năm (Trung tâm Khoai tây Quốc tế - CIP, 2000). Trong vòng 45 năm (1960-2005), sản xuất khoai tây có xu hướng dịch chuyển mạnh từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển với tỷ lệ (%) tương ứng là 89/11 năm 1960 và 64/36 năm 2005.
Lạc, đậu tương, đậu xanh là 3 cây trồng chính trong nhóm cây đậu đỗ được khai thác để đáp ứng nhu cầu sử dụng dầu thực vật, protein cho người và nguyên liệu thức ăn gia súc, đây cũng là loại cây trồng có tác dụng tốt trong việc luân xen canh, cải tạo đất và ứng dụng để chuyển đổi cơ cấu cây trồng rất hiệu quả. Sản phẩm của đậu đỗ được sử dụng rất phổ biến trong dân gian và ngày càng được tiêu thụ nhiều hơn khi phát hiện được nhiều vi chất ảnh hưởng tốt đến sức khỏe con người và động vật.
Vi sinh vật (VSV) phân giải lân là các VSV có khả năng chuyển hóa hợp chất photpho khó tan thành dễ tiêu đối với cây trồng. Hoạt tính phân giải lân được xác định định tính thông qua vòng phân giải lân trên môi trường nuôi cấy đặc chứa hợp chất phốt pho khó tan hoặc định lượng thông qua lượng lân hòa tan được hình thành trong môi trường nuôi cấy lỏng. Kết quả nghiên cứu xác định một số VSV có khả năng hòa tan nhiều hợp chất photpho khó tan khác nhau, có tác dụng nâng cao hiệu quả sử dụng lân khoáng cho cây trồng.
Phân lân là một trong ba loại phân bón đa lượng chủ yếu cho cây trồng. Nước ta lại có nguồn quặng apatít dồn dào để sản xuất phân lân nung chảy (FMP), superphosphate đơn (SSP), diamonium phosphate (DAP) và dicalcium phosphate (DCP). Mỗi loại phân lân này có những đặc tính riêng trong mối quan hệ với hệ sinh thái thổ những, cây trồng với khí hậu ở nước ta. Trong bài viết này, chúng tôi xin giới thiệu một số đặc điểm phân lân nung chảy và cơ sở khoa học của việc sử dụng hiệu quả loại phân này.
Theo IFA (2013), hiện nay chỉ thống kê được 3 nước sản xuất FMP là: Trung Quốc, Việt Nam và CHDCND Triều Tiên với khối lượng 355 ngàn tấn P2O5, trong khi đó: Hàn Quốc, Nhật Bản, Brazil và Nga sử dụng loại phân bón này (bảng 1). Theo Nguyễn Huy Phiêu (2014), Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Brazil, Nam Phi và Trung Quốc sản xuất và sử dụng FMP với tỉ lệ 15% trong số các loại phân lân. Tuy nhiên, IFA cho rằng: khối lượng FMP do Trung Quốc và Việt Nam sản xuất để tiêu thụ nội địa nhưng thực tế không phải.
Trong những năm qua sản xuất lạc và đậu tương ở nước ta đã có bước tiến bộ nhảy vọt nhờ vào các thành tựu nghiên cứu khoa học các giai đoạn trước và giai đoạn 2006 - 2010, chính sách phát triển nông nghiệp của các cấp chính quyền từ trung ương đến địa phương.
Công nghệ sinh sản trên gia súc đã và đang được áp dụng ngày càng phổ biến trên thế giới, đặc biệt là trên bò sữa, vì khả năng sinh sản ít với khoảng 3-4 bê trong cả cuộc đời, và thường sinh sản kém hơn khi năng suất sữa tăng cao. Chăn nuôi bò sữa ở Việt Nam đang được khuyến khích phát triển mạnh, hiện có khoảng 227 ngàn con với 125 ngàn bò vắt sữa (10/2014) và được quy hoạch phát triển lên 300 ngàn con vào năm 2020. Sinh sản của bò sữa hiện đang gặp nhiều vấn đề khó khăn với tuổi phối giống lần đầu cao, biến động lớn (16-36 tháng), khoảng cách giữa 2 lứa đẻ kéo dài (14-18 tháng), hệ số phối đậu cao (2,5-3,0 phối giống/thụ thai) và nhiều bệnh sinh sản.
Công tác lai tạo và chọn lọc giống có ý nghĩa quan trọng nhằm góp phần nâng cao năng suất, chất lượng giống và giảm giá thành sản phẩm. Bên cạnh các phương pháp chọn giống truyền thống dựa vào gia phả hay kiểu hình, thì việc tìm ra các gen, các vùng gen ảnh hưởng đến các tính trạng năng suất để hỗ trợ chọn giống được quan tâm nhiều trong những năm gần đây.
Vùng Đồng Tháp Mười (ĐTM) là một phần của Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) với diện tích tự nhiên 696.949 ha, trong đó đất phèn chiếm diện tích lớn nhất 273.659 ha (39,27%) (Phan Liêu và ctv., 1998). Đất phèn được phân ra thành đất phèn nặng, trung bình, và phèn nhẹ. Điều này đã tạo ra những “tiểu vùng sinh thái” khác nhau trong Đồng Tháp Mười, tác động trực tiếp đến sản xuất lúa ở mỗi vùng.












