Việt Nam năm 2015 gieo trồng 7.835 ngàn ha lúa, chiếm 52.86% tổng diện tích gieo trồng của cả nước. Để đảm bảo năng suất, nông dân đã sử dụng trên 10 triệu tấn phân bón các loại, trong đó có 2,2 triệu tấn phân urea, chưa kể lượng phân đạm lớn chứa trong phân DAP và NPK các loại. Do hiệu quả sử dụng phân đạm thấp, xung quanh 45-50% nên một phần không nhỏ phân đạm bị mất dưới dạng NH3 và các oxyt nitơ, trong đó có N2O một loại khí nhà kính nguy hiểm, có hệ số ấm lên toàn cầu tới 298 lần so với CO2.
Cây thanh long (Hylocereus undatus) thuộc nhóm cây ngày dài, trong điều kiện tự nhiên cây ra hoa vào mùa thuận từ tháng 5 đến tháng 10. Để kích thích cây ra hoa nghịch mùa cần chiếu sáng bổ sung bằng đèn. Nông dân thường sử dụng bóng đèn tròn 60-75W bổ sung 10 giờ/đêm. Việc sử dụng bóng đèn compact 20W ít tiêu hao năng lượng và giảm thời gian chiếu sáng/đêm để kích thích ra hoa, ít tiêu hao năng lượng trong sản xuất thanh long là hết sức cần thiết.
Lúa là cây lương thực quan trọng nhất của Việt Nam với diện tích thu hoạch năm 2015 là 7.835 ngàn ha, sản lượng 45,2 triệu tấn thóc, xuất khẩu 6.997 ngàn tấn gạo với kim ngạch 2.852 triệu USD. Tuy nhiên, xét thuần túy về kinh tế, lúa gạo chỉ đóng góp khoảng 5,45% GDP của cả nước và người sản xuất lúa gạo chỉ có thu nhập thuần 419 USD/ha so với 1.128 USD/ha của nông dân Thái Lan. Thêm nữa, theo kịch bản Biến đổi khí hậu 2016, chúng ta có tới 16,8% diện tích Đồng bằng sông Hồng và 38,9% diện tích Đồng bằng sông Cửu Long bị ngập lụt khi mực nước biển dâng 100cm và nếu điều này xảy ra, sản lượng lúa gạo có thể giảm trên 30-35%.
Trong các loại hoa được trồng phổ biến, hoa lan được biết đến như một loài hoa không chỉ ở vẻ đẹp, hương thơm, màu sắc đa dạng mà còn có giá trị kinh tế cao. Đến nay loài người đã biết được trên 750 chi với 35000 loài lan tự nhiên và 75000 giống lan do kết quả chọn lọc và lai tạo.
Thời gian gần đây, nhóm bọ phấn hại cây trồng đã và đang gia tăng mức độ gây hại tại nhiều nơi ở nước ta (bọ phấn hại cây lúa, cây vải, cây mí,…). Trong khi đó, những hiểu biết về thành phần loài bọ phấn hại còn rất ít. Bọ phấn thuốc lá (BPTL) là sâu hại quan trọng trên nhiều loại cây trồng. Trên cây cà chua, ngoài tác hại trực tiếp, BPTL còn là môi giới lan truyền virus gây bệnh xoăn vàng ngọn lá cây cà chua.
Giá trị pH đất thấp là yếu tố giới hạn chính đối với sản xuất hồ tiêu (Piper nigrumL.) ở tỉnh Hải Nam. Những vườn tiêu khai thác lâu năm thường có pH thấp 5,0-5,5. Một thí nghiệm thăm dò trồng tiêu thủy canh được tiến hành để xác định tác động của pH ở các mức 3,5; 4,0; 5,5; 7,0 đối với sự tăng trưởng cây tiêu con, hàm lượng dinh dưỡng trong mô cây và đặc tính hình thái rễ. Kết quả cho thấy pH thấp hạn chế trực tiếp đến sự phát triển và chức năng của rễ, hạn chế sự hấp thụ K, Ca, Mg và giảm sự phát triển cây con.
Sự gia tăng dân số một cách nhanh chóng làm cho vấn đề an ninh lương thực trở thành vấn đề chính của thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Thêm vào đó, sản lượng và sự phát triển của nền sản xuất nông nghiệp bền vững cũng đang bị đe dọa bởi ảnh hưởng của hiện tượng biến đối khí hậu và các điều kiện bất lợi (như hạn, ngập úng, dịch bệnh, sói mòn đất và ô nhiễm môi trường).
Chế biến tinh bột sắn là ngành công nghiệp phát sinh lượng lớn nước thải. Lượng nước thải sinh ra trong quá trình chế biến tinh bột sắn trung bình 12-20m3/tấn sản phẩm/ngày (Huỳnh Ngọc Phương Mai, 2006). Trong nước thải chế biến tinh bột sắn thường có thành phần chất rắn lơ lửng cao do bột và xơ củ sắn sót lại, nhu cầu oxy sinh hóa (BOD) và nhu cầu oxy hóa học (COD) có nồng độ cao hàng chục ngàn mg/l gây khó khăn cho quá trình xử lý sinh học.
Cà chua là cây rau được trồng và tiêu thụ phổ biến tại Việt Nam, với diện tích khoảng 23-25 ngàn ha, năng suất trung bình ước đạt 30-40 tấn/ha. Hiện nay, trong sản xuất gần như 100% giống cà chua được sử dụng là giống F1 nhập nội, có giá hạt giống rất cao, trung bình từ 25-40 triệu đồng/kg. Chọn tạo giống cà chua bằng phương pháp lai hữu tính là phương pháp chủ yếu trên toàn thế giới, phương pháp này đã tạo được các giống cà chua có ưu thế lai vượt trội, với năng suất cà chua được cải thiện một cách nhanh chóng.
Vùng Nam Bộ có 5 tầng chứa nước chính theo thứ tự từ trẻ đến già gồm: tầng chứa nước Pleistocene thượng (qp3), tầng chứa nước Pleistocene trung-thượng (qp2-3), tầng chứa nước Pleistocene hạ (qp1), tầng chứa nước Pliocene trung (n22), tầng chứa nước Pliocene hạ (n21). Trên cơ sở kết quả quan trắc tài nguyên nước dưới đất năm 2014 và 11 tháng năm 2015 diễn biến tài nguyên nước dưới đất được phân tích, đánh giá để dự báo cho tháng 12/2015 và 1/2016.
Vùng Nam Trung Bộ hiện có 03 trạm quan trắc tài nguyên nước mặt được xây dựng theo Quyết định số 2208/QĐ-BTNMT ngày 31/10/2008 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình “Xây dựng mới 4 trạm quan trắc tài nguyên nước mặt khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ giai đoạn 2007-2010”. Các yếu tố quan trắc chủ yếu là nhiệt độ nước, mực nước, lưu lượng, hàm lượng chất lơ lửng và chất lượng nước.
Vùng Tây Nguyên gồm có 4 tầng chứa nước chính. Theo thứ tự từ trẻ đến già gồm: tầng chứa nước lỗ hổng bồi tích hiện đại (Q), tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pleistocen giữa (βQII), tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pliocen-Pleistocen dưới (βN2-QI) và tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng vỉa các thành tạo đầm hồ trầm tích Neogen (N).
Theo Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu, Kịch bản biến đổi khí hậu (BĐKH) và nước biển dâng cho Việt Nam được Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố lần đầu vào năm 2009 trên cơ sở tổng hợp các nghiên cứu trong và ngoài nước. Năm 2011, Chiến lược quốc gia về BĐKH được ban hành, xác định mục tiêu cho các giai đoạn và các dự án ưu tiên; Bộ Tài nguyên và Môi trường đã cập nhật kịch bản BĐKH và nước biển dâng.
Hàng năm, nông nghiệp trồng trọt sử dụng khoảng70% tới 90% lượng nước ngọt trên thế giới: cho khoảng 20% đất nông nghiệp và đóng góp khoảng 40% lượng lương thực thế giới
• Trên toàn cầu, lượng nước dùng trong công nghiệp được dự đoán sẽ tăng gấp đôi trong thời kì từ 2010 tới 2030, trong khi nước dùng cho tưới tiêu cho tới 2050 sẽ tăng khoảng 5%.
Trên toàn Châu Á, thập kỷ qua chứng kiến những lo ngại ngày càng tăng về sự bền vững của cơ sở hạ tầng tốn kém cho nước và về sự khan hiếm nước nổi lên do tăng cầu và những sử dụng cạnh tranh. Những lo ngại này đã dẫn đến một sự suy nghĩ lại và sự tổ chức lại những vai trò của Chính phủ trong việc phát triển và quản lý tưới tiêu…
Ở nước ta, đất xám (Acrisols) là nhóm đất có diện tích 19.970.642 ha, được phân bố rộng khắp ở các vùng trung du, miền núi và rìa đồng bằng. Đây là nhóm đất được xếp vào loại đất nghèo dinh dưỡng, nhưng có nhiều đặc tính thuận lợi cho việc trồng trọt nếu biết sử dụng đúng. Trên thực tế loại đất này cũng có một vai trò rất quan trọng trong nền nông nghiệp nước nhà. Đất xám với những đặc điểm cơ bản là tầng đất dày, dễ thoát nước, dễ cơ giới hóa nhưng thành phần cơ giới thô, nhẹ, nghèo dinh dưỡng, dung lượng cation trao đổi (CEC) thấp nên dễ bị rửa trôi, xói mòn.
Để rút ngắn thời gian trong việc chọn tạo giống lạc kháng bệnh héo xanh vi khuẩn, ứng dụng chỉ thị phân tử là con đường ngắn và hiệu quả, không những góp phần hạn chế tác hại của bệnh mà còn hạn chế sử dụng thuốc bảo vệ thực vật phòng chống bệnh, bảo vệ môi trường và tạo sự đa dạng sinh học đối với cây lạc (Liao et al., 2005b; Peng et al., 2011; Ding et al., 2012). Đến nay ở nước ta chưa có nghiên cứu nào về sử dụng chỉ thị phân tử để chọn giống lạc kháng bệnh héo xanh vi khuẩn được công bố.
Cây ngô Zea mays L. (họ hoà thảo Poaceae) có diện tích trồng đứng thứ 3 sau lúa mì, lúa nước và sản lượng đứng thứ hai, năng suất cao nhất trong các cây ngũ cốc. Ở Việt Nam, cây ngô là cây lương thực quan trọng đứng thứ hai sau cây lúa và là cây màu quan trọng nhất được trồng ở nhiều vùng sinh thái khác nhau, đa dạng về mùa vụ gieo trồng và hệ thống canh tác.
Năm 2008, tỉnh Trà Vinh xuất hiện loài rệp sáp Aulacaspis tubercularis (Diaspidides, homoptera) gây hiện tượng khô lá, cành và chết cả cây xoài. Rệp sáp A. tubercularis được xác định thể có nguồn gốc ở châu Á, chủ yếu là làm lá chuyển màu xanh nhạt hoặc vàng, nhiễm nặng có thể làm khô lá và chết cả cành (Borchsenius, 1966). Đây là loài đa ký chủ, đặc biệt gây hại nhiều trên xoài
Thí nghiệm được tiến hành từ tháng 10 năm 2014 đến tháng 02 năm 2015 nghiên cứu đặc điểm hình thái và sinh học của sâu đục trái Tirathaba sp. (Lepidoptera: Pyralidae) gây hại trên chôm chôm tại tỉnh Tiền Giang, tại Viện cây ăn quả miền Nam và xã Tân Phong, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang. Kết quả thí nghiệm thu được là có 5 loài sâu đục trái tấn công trên chôm chôm tại tỉnh Tiền Giang. Trong đó loài gây hại phổ biến nhất là loài Tirathaba sp. đây là loài sâu đục trái mới được ghi nhận.
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 09 năm 2013 đến tháng 09 năm 2014 nghiên cứu về đặc điểm hình thái, sinh học của sâu đục trái bưởi Citripestis sagittiferella tại Viện cây ăn quả miền Nam và tại xã Mỹ Lợi A, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang. Kết quả ghi nhận thành trùng sâu đục trái bưởi Citripestis sagittiferella có màu vàng xám đến nâu đậm. Con đực có râu hình răng lược còn con cái có râu hình sợi chỉ. Trứng có hình oval, màu trắng hơi phồng lên rồi chuyển sang màu hồng.
Sâu đục thân luôn là đối tượng dịch hại gây thiệt hại nghiêm trọng đến năng suất và phẩm chất mía. Năm 2014, tại tỉnh Tây Ninh xuất hiện thâm một loài sâu đục thân mới – Chilotumidicostalis Hampson (Lepidoptera: Pyralidae) gây thiệt hại lớn đến ngành sản xuất mía. Do đây là đối tượng dịch hại tương đối mới, các nghiên cứu cơ bản về C.tumidicostalis là rất cần thiết và quan trọng nhằm có những cơ sở để nghiên cứu các biện pháp kiểm soát đối tượng dịch hại này.
Dâu tây là một trong những cây trồng đặc sản của Đà Lạt. Tuy nhiên, thời gian gần đây dâu tây bị bệnh nhiều. Đây là một trong số các nguyên nhân làm ảnh hưởng đến rất nhiều đến năng suất cũng như chất lượng dâu tây. Trong lĩnh vực BVTV, GIS phục vụ cho việc quản lý, cập nhật, truy suất, nâng cao hiệu quả cho việc cung cấp nguồn dữ liệu cho thông kê, quy hoạch; xác định mô hình không gian và ướt lượng tối ưu để tạo ra bản đồ phân bố dịch hại nhằm đánh giá xu thế phát triển của chúng.
Trong nông nghiệp các bệnh cây có liên quan đến nấm chiếm một tỷ lệ rất lơn. Hiện nay, các biện pháp hóa học vãn được sử dụng rất phổ biến và rộng rãi với một lượng rất lớn vì nó mang lại hiệu quả phòng trừ cao, rẻ tiền. Tuy nhiên bên cạnh đó, nó cũng gây ra những tác hại nghiêm trọng đến môi trường và sức khỏe con người, tạo ra sự kháng thuốc với nhiều loại bệnh hại trên cây.
Thí nghiệm được thực hiện tại phòng thí nghiệm thuộc bộ môn BVTV, khoa Nông nghiệp và SHƯD, trường ĐH Cần Thơ, nhằm tìm ra các chuẩn xạ khuẩn có hiệu quả quản lý bệnh thán thư hại Xoài do nấm Colletotrichum spp gây ra. Trong điều kiện phòng thí nghiệm, 3 chủng xạ khuẩn HG1, HG3 và HG6 cho hiệu quả cao trong ức chế sự phát triển sợi nấm thể hiện qua bán kính vòng vô khuẩn lần lượt 9,3mm; 10,6mm và 9,8mm, hiệu suất đối kháng lần lượt là 65,1%;66,9% và 70,5% ở thời điểm 9 ngày sau thí nghiệm.
Đề tài được nghiên cứu từ tháng 11/2013 – 12/2014 với các nội dung: Kgảo sát diễn biến quần thể sâu đục trái Citripestis sagitiferella trên hai giống bưởi da xanh và long cổ cò tại tỉnh Tiềng Giang. Ảnh hưởng của các loại bao trái khác nhau đến khả năng gây hại của sâu đục trái bưởi.
Sâu cuốn lá lạc là đối tượng gây hại nghiêm trọng trên cây lạc, để quản lý sâu cuốn lá hại lạc đạt hiệu quả cao phải sử dụng biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp với phương châm là giải quyết một cách hài hòa mối quan hệ giữa sâu hại, thiên địch, cây trồng và điều kiện ngoại cảnh ở từng giai đoạn sinh trưởng của cây lạc. Trong đó cần duy trì và khích lệ khả năng hoạt động của các loài thiên địch,
Trong điều kiện phòg thí nghiệm, sử dụng phương pháp cho ăn nhỏ giọt trên sâu xanh da láng (Spodoptera exigua Hübner) tuổi 2 cho kết quả bốn chủng virus gồm SeNPV – VL5, SeNPV – CT3, SeNPV – ĐT2 và SeNPV – AG1 thu thập tại Vĩnh Long, Cấn Thơ, Đồng Tháp và An Giang đạt hiệu quả 100% đối với sâu xanh da láng sau 5 ngày lây nhiễm.
Sâu kéo màng, Hellula undalis Fabricius (Lepidoptera: Pyralidae) là loại sâu hại rau cả họ Brassicaceae quan trọng ở ĐBSCL. Nhằm tạo thông tin cơ sở cho các nghiên cứu về xây dựng chiến lược quản lý hiệu quả, ảnh hưởng của thức ăn và nhiệt độ lên thời gian phát triển của H. undalis đã được khảo sát trong điều kiện phòng thí nghiệm tại trường ĐH Cửu Long. Kết quả nghiên cứu cho thấy thức ăn và nhiệt độ của môi trường đã ảnh hưởng lên thời gian phát triển của H. undalis. Giữa 5 loại thức ăn khảo sát gồm cải ngọt, cải xanh, cải tùa xại, cải thìa và cải bó xôi, vòng đời của H.undalis là ngắn nhất (17,54 ngày) khi được nuôi bằng cải xanh, trong khi ấu trùng được nuôi bằng cải bó xôi đã không thể sống đến hết tuổi 2.












