Chi tiết xin xem tại:
Vùng Nam Bộ có 5 tầng chứa nước chính theo thứ tự từ trẻ đến già gồm: tầngchứa nước Pleistocene thượng (qp3), tầng chứa nước Pleistocene trung-thượng (qp2-3),tầng chứa nước Pleistocene hạ (qp1), tầng chứa nước Pliocene trung (n22), tầng chứanước Pliocene hạ (n21). Trên cơ sở kết quả quan trắc tài nguyên nước dưới đất năm 2016và tháng đầu năm 2017 diễn biến tài nguyên nước dưới đất được phân tích, đánh giá đểdự báo cho tháng 2 và 3 năm 2017.
Vùng Tây Nguyên gồm có 4 tầng chứa nước chính. Theo thứ tự từ trẻ đến giàgồm: tầng chứa nước lỗ hổng bồi tích hiện đại (Q), tầng chứa nước khe nứt lỗ hổngphun trào Bazan Pleistocen giữa (βQII), tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun tràoBazan Pliocen-Pleistocen dưới (βN2-QI) và tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng vỉa cácthành tạo đầm hồ trầm tích Neogen (N).
Vùng Nam Trung Bộ hiện có 03 trạm quan trắc tài nguyên nước mặt được xâydựng theo Quyết định số 2208/QĐ-BTNMT ngày 31/10/2008 của Bộ Tài nguyên vàMôi trường về việc phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình “Xây dựng mới 4 trạmquan trắc tài nguyên nước mặt khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ giai đoạn 2007-2010”. Các yếu tố quan trắc chủ yếu là nhiệt độ nước, mực nước, lưu lượng, hàmlượng chất lơ lửng và chất lượng nước
Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ hiện có 41 công trình quan trắc, trong vùng có3 tầng chứa nước lỗ hổng và 2 tầng chứa nước khe nứt tại các tỉnh Quảng Nam, QuảngNgãi và thành phố Đà Nẵng. Trên cơ sở kết quả quan trắc tài nguyên nước dưới đấtnăm 2015 và 2016, diễn biến tài nguyên nước dưới đất được phân tích, đánh giá để dựbáo mực nước tháng 1 và tháng 2 năm 2017 cho tầng chứa nước chính là tầng chứanước Holocene (qh) và tầng chứa nước Pleistocene (qp).
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng sản xuất lúa và xuất khẩu gạo trọng điểm của cả nước, vì vậy nâng cao tính bền vững và hiệu quả của ngành lúa gạo có ý nghĩa quan trọng để thực hiện mục tiêu tái cơ cấu của ngành lúa gạo nói riêng và nông nghiệp nói chung. Đáp ứng yêu cầu này, việc phát triển các giống lúa thơm, chất lượng cao là cấp thiết. Xu hướng của thị trường gạo xuất khẩu đang tạo ra cơ hội mới khi tỷ lệ gạo thơm và gạo trắng cao cấp xuất khẩu liên tục gia tăng.
Bệnh bạc lá lúa do vi khuẩn Xanthomonas oryzae là một trong những bệnh chính gây hại trên lúa ở miền Bắc nước ta. 16 mẫu phân lập được từ 138 mẫu thu thập ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam. Các mẫu phân lập này và 4 mẫu từ Học viện Nông nghiệp Việt Nam được lây nhiễm trên bộ chỉ thị và phân thành 3 nhóm nòi. Các gen xa5, Xa7, Xa21 đều kháng với cả 3 nhóm nòi.
Để thúc đẩy nghiên cứu và phát triển lúa lai trong nước, góp phần hoàn thành mục tiêu mở rộng và phát triển sản xuất lúa lai đáp ứng được mục tiêu tái cơ cấu ngành trồng trọt đồng thời tăng thị phần giống lúa lai được chon tạo và sản xuất trong nước dần thay hế giống nhập nội đáp ứng được yêu cầu của sản xuất về giống lúa lai. Giai đoạn 2011-2015, Viện Cây lương thực – Cây thực phẩm đã được bộ NN&PTNT giao chủ trì thực hiện đề tài” Nghiên cứu chọn tạo giống lúa lai 2, 3 dòng cho các tỉnh phía Bắc và Đồng bằng sông Cửu Long”.
Khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng số doanh nghiệp cả nước (năm 2014 chiếm 96,7%) và ngày càng có nhiều đóng góp quan trọng trong việc tạo việc làm huy động nguồn vốn ngoài nhà nước vào phát triển kinh tế đất nước và giải quyết các vấn đề xã hội.
Nghiên cứu với tiêu đề “Phân lập, tuyển chọn và định danh vi khuẩn phân giải xenlulo từ cành thanh long” được thực hiện với mục đích phân lập và chọn lọc ra những dòng vi khuẩn tiềm năng có khả năng phân giải xenlulo. Có 85 dòng vi khuẩn phâ giải xenlulo được phân lập từ 5 tỉnh của Đồng bằng sông Cửu Long. Trong đó, dòng BL18 có khả năng phân hủy CMC cao nhất. Có 11 dòng có khả năng phân hủy giấy lọc “Whatman No.1”. Dòng VL33 đã thể hiện khả năng phân hủy cành thanh long cao nhất (62,57%).
Bệnh đạo ôn trên lúa là một trong những bệnh rất nghiêm trọng và thiệt hại lớn đến năng suất trên thế giới. Nhiều tài liệu đã chứng minh việc sử dụng các giống lúa kháng sẽ là cách hiệu quả nhất để kiểm soát bệnh này. Do đó, việc khai thác hiệu quả các gen kháng là nền tảng quan trọng trong chọn tạo giống lúa. Trong nghiên cứu này, chúng tôi xác định sự hiện diện của gen Piz và Pik-m bằng cách sử dụng phương pháp SSR (simple sequence repeat) với marker liên kết với gen Piz và Pik-m là RM3431 và RM1144.
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng sản xuất lúa và xuất khẩu gạo trọng điểm của cả nước, vì vậy nâng cao tính bền vững và hiệu quả của ngành lúa gạo có ý nghĩa quan trọng để thực hiện mục tiêu tái cơ cấu của ngành lúa gạo nói riêng và nông nghiệp nói chung. Đáp ứng yêu cầu này, việc phát triển các giống lúa thơm, chất lượng cao là cấp thiết. Xu hướng của thị trường gạo xuất khẩu đang tạo ra cơ hội mới khi tỷ lệ gạo thơm và gạo trắng cao cấp xuất khẩu liên tục gia tăng.
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vựa lúa lớn nhất của cả nước, hàng năm cung cấp 56% tổng sản lượng lúa của cả nước và đóng góp trên 90% sản lượng gạo xuất khẩu (Niên giám thống kê, 2014). Sản xuất lúa ở ĐBSCL có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và góp phần tích cực cho xuất khẩu. Tuy nhiên, ĐBSCL được dự báo là một trong những điểm nóng chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của trái đất do biến đổi khí hậu (BĐKH) toàn cầu gây ra, trong đó sự gia tăng nhiệt độ cũng đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng.
Kết quả nghiên cứu tưới nước cho vườn ca cao kinh doanh tại Đắk Lắk từ năm 2012 – 2014 cho thấy tưới nước có tác dụng tốt đến các chỉ tiêu cấu thành năng suất như tăng tỷ lệ đậu quả, tăng trọng lượng hạt và hạn chế tỷ lệ rụng quả. Công thức không tưới tỷ lệ rụng quả cao nhất (46,93%). Tưới nước cũng góp phần làm tăng số quả/cây. Công thức tưới tiết kiệm100 lít/gốc/lần với chu kỳ 15 ngày có trọng lượng hạt đạt cao nhất (132,42g/100 hạt); công thức đối chứng không tưới có trọng lượng 100 hạt là thấp nhất (122,91 g/100 hạt).
Nghiên cứu về đặc điểm hình thái, sinh học của sâu đục trái bưởi Citripestis sagittiferella được tiến hành từ tháng 09 năm 2013 đến tháng 09 năm 2014 tại Viện Cây ăn quả miền Nam và tại xã Mỹ Lợi A, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang. Kết quả ghi nhận thành trùng sâu đục trái bưởi Citripestis sagittiferella có màu vàng xám đến nâu đậm. Con đực có râu hình răng lược còn con cái có râu hình sợi chỉ. Trứng có hình oval, màu trắng hơi phồng lên rồi chuyển sang màu hồng.
Trong một thập kỷ gần đây, cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, việc giải trình tự gen và xây dựng bản đồ điểm đa hình đơn nucleotide (SNP) có độ phân giải cao đã làm sáng tỏ nhiều yếu tố di truyền ở nhiều loại cây trồng, đặc biệt là ở cây lúa (Oryza sativa). Đối với các tính trạng nông học phức tạp như năng suất, chất lượng, khả năng chống chịu của một quần thể lúa thì nghiên cứu liên kết trên toàn hệ gen (GWAS – Genome Wide Association Study) là công cụ vô cùng hữu hiệu.
Thí nghiệm nghiên cứu hiệu quả của một số phương pháp tưới nước và bón phân đến năng suất, chất lượng mía ở vùng Đông Nam bộ được trồng trong vụ đông xuân vào tháng 10/2013 trên đất xám bạc màu tại xã Phú An, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Thí nghiệm gồm 5 công thức được bố trí theo kiểu khối đầy đủ ngẫu nhiên, lặp lại 3 lần. Kết quả thí nghiệm cho thấy tưới nước ảnh hưởng rõ rệt đến tỷ lệ mọc mầm, sức tái sinh, sức đẻ nhánh, các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất mía. Mía được tưới cho năng suất thực thu > 105 tấn/ha và năng suất quy 10 CCS > 113 tấn/ha ở cả vụ mía tơ và gốc 1.
Với sản lượng hàng năm hơn 1,7 triệu tấn và kim ngạch xuất khẩu đạt hơn 3,6 tỷ USD, cà phê được coi là một trong những cây trồng chủ lực của Việt Nam. Tuy nhiên, hệ thống sản xuất cà phê vẫn tiềm ẩn yếu tố kém bền vững do tình trạng sử dụng lãng phí và chưa hợp lý các nguồn tài nguyên và vật tư đầu vào. Vì vậy, việc nghiên cứu hoàn thiện quy trình quản lý cây trồng tổng hợp cho cà phê để phổ biến ra sản xuất là rất quan trọng, đặc biệt với tình tình giá cả bấp bênh, môi trường canh tác suy thoái và chi phí sản xuất ngày càng cao.
TAL effector là một protein tiết loại 3 đặc trưng cho chi Xanthomonas gây bệnh rộng rãi trên nhiều loại cây trồng khác nhau và chúng có vai trò quyết định trong tương tác đặc hiệu vi khuẩn và cây chủ. Các nghiên cứu gần đây cho thấy chỉ một vài TAL effector riêng lẻ có khả năng quyết định độc tính của vi khuẩn Xanthomonas thông qua việc hoạt hóa các gen nhiễm.
Nghiên cứu đánh giá tác động của BĐKH đến năng suất lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) và Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) được thực hiện tại 4 tỉnh ĐBSH: Thái Bình, Hải Dương, Ninh Bình, Vĩnh Phúc và 4 tỉnh đồng bằng sông ĐBSCL: Sóc Trăng, Kiên Giang, Đồng Tháp, Hậu Giang. Số liệu về năng suất tiềm năng của cây lúa vùng ĐBSH và ĐBSCL được tính toán bằng mô hình DSSAT theo các kịch bản BĐKH B1, B2 và A2
Kết quả nghiên cứu khả năng tích lũy Pb và Cd trong các bộ phận của cây cà chua cho thấy dư lượng Pb, Cd trong các bộ phận của cây đều tăng khi hàm lượng của chúng trong đất tăng lên. Mặt khác, mức độ tích lũy cũng có sự khác nhau giữa các bộ phận của cây. Mức độ tích lũy Pb trong lá cà chua là cao nhất, sau đó đến thân, rễ và thấp nhất là trong quả.
Báo cáo trình bày một phần kết quả nghiên cứu của đề tài “Nghiên cứu xác định yếu tố hạn chế của độ phì đất trồng lúa ở Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long và đề xuất giải pháp khắc phục”. Mục tiêu nhằm xác định được yếu tố hạn chế độ phì nhiêu đất lúa ĐBSCL (bao gồm 4 nhóm đất). So sánh giữa các tính chất đất hiện tại với sự biến động các tính chất này trong 40 năm qua, pHKCl của các nhóm đất hiện đều ở mức thấp, đặc biệt là nhóm đất phèn.
Trong 2 năm 2014-2015, đề tài đã ứng dụng than sinh học được chế biến từ vỏ cà phê và phân hữu cơ khoáng thế hệ mới chuyên dùng cho cây cà phê trong canh tác cây cà phê chè (Arabica) tại Đăk Nông. Kết quả cho thấy bón bổ sung 1.500kg/ha than sinh học cho cà phê chè đã làm tăng năng suất cà phê 24,04%, lợi nhuận tăng 26,9 triệu đồng/ha. Bón phân hữu cơ khoáng thế hệ mới chuyên dùng cho cây cà phê giúp tiết kiệm 30% lượng phân bón khuyến cáo (240kg N – 80kg P205 – 240kg K20)/ha đồng thời tăng năng suất cà phê 18,31%, giúp tăng thêm lợi nhuận 17,47 triệu đồng/ha/vụ.
Cà chua là loại rau quả được trồng với diện tích lớn thứ hai trong các loại rau và được tiêu thụ nhiều nhất trên thế giới. Diện tích sản xuất cà chua trên thế giới năm 2013 đạt 5,2 triệu ha, sản lượng 129,8 triệu tấn, năng suất trung bình đạt 24,7 tấn/ha. Tại Việt Nam, cà chua được trồng và tiêu thụ rất phổ biến. Diện tích trồng cà chua những năm gần đây vào khoảng 23-25 ngàn ha, các tỉnh phía Nam ước đạt 9.000 ha, chiếm khoảng 40% diện tích trồng cà chua cả nước.
Mục tiêu của nghiên cứu nhằm đánh giá ảnh hưởng của bón phân N,P,K đến năng suất và khả năng hấp thu N,P,K của cây khoai lang trồng trên đất phèn ở Long Mỹ, Hậu Giang vào vụ Đông Xuân 2015 - 2016. Thí nghiệm một nhân tố được bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 lần lặp lại trên diện tích lô thí nghiệm là 10 m2 (dài 10 m x 1 m).
Định hướng chung lai tạo giống mía mới tại Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 là lai tạo giống mía có khả năng thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu, cho năng suất và chất lượng mía cao, vượt từ 10% trở lên so với bình quân của vùng, góp phần đưa năng suất bình quân cả nước lên 72 tấn/ha, chữ đường đạt 10,5 CCS, tỷ lệ diện tích giống mía mới Việt Nam lên 20% vào năm 2020
Công nghệ WebGIS đã được ứng dụng trong nhiều ngành khác nhau như giao thông, du lịch,...Trong nông nghiệp, lần đầu công nghệ WebGIS được nghiên cứu phục vụ canh tác lúa vùng đồng bằng Sông Hồng, dựa trên cơ sở dữ liệu về bản đồ đất, bản đồ hiện trạng sử dụng đất, tính chất đất đai, kỹ thuật canh tác, sử dụng phân bón và năng suất thực thu trong những vụ trước của nông dân. Ứng dụng quản lý dinh dưỡng theo vùng đặc thù (SSNM) cho cây lúa theo tới lô thửa và tiểu vùng kết hợp thử nghiệm kiểm định cho từng khu vực, kết quả được tích hợp trên nền bản đồ lô thửa.
hực vật đáp ứng với các điều kiện môi trường bất lợi bằng cách hoạt hóa hàng loạt các gen liên quan tới chống chịu stress, trong đó bao gồm cả nhóm gen điều khiển mã hóa các nhân tố phiên mã. Trong nghiên cứu này chúng tôi đã phân lập được gen mã hóa nhân tố phiên mã OsNLI-IF từ thư viện cDNA xử lý stress của lúa bằng kỹ thuật PCR với cặp mồi đặc hiệu. Nghiên cứu cho thấy OsNLIIF được tăng cường biểu hiện trong các điều kiện bất lợi như hạn, mặn, lạnh, nhiệt độ cao theo con đường không phụ thuộc vào ABA.
Phân tích QTL quần thể hồi giao BC2F2 giữa OM5930 / N22 với 310 cá thể con lai. Sử dụng 264 SSR đa hình (trong tổng số 501chỉ thị). Bản đồ liên kết trên cơ sở quần thể BC2F2 này, phủ trên 2.741,63 cM với khoảng cách trung bình giữa hai chỉ thị là 10,55 cM. Tất cả QTLs được xác định trên cơ sở xác suất tin cậy P < 0,01 (tương ứng với phân tích SMA ở giá trị LOD > 3,6 và đối với IMA ở giá trị LOD > 3,9).
Ở nước ta hiện có 130.000 ha lúa cạn đang được được trồng chủ yếu bởi một số dân tộc tít người sống tại các vùng đồi núi cao thuộc miền núi phía Bắc, Bắc Trung bộ và Tây nguyên. Nguồn gen lúa cạn ở Việt Nam rất đa dạng và có giá trị không chỉ về na ninh lương thực mà còn về kinh tế, văn hóa xã hội và nghiên cứu khoa học. Hiện tại Trung tâm Tài nguyên thực vật đã thu thập và đang lưu giữ khoảng 2700 nguồn gen lúa cạn (chiếm 33,48%) trong tổng số 8.000 nguồn gen lúa nói chung.












