Giai đoạn 1990-2010 đã có một số nghiên cứu về phân bón cho chè, song chủ yếu tập trung vào phân bón vô cơ. Liều lượng và tỷ lệ dinh dưỡng bón cho chè phụ thuộc rất lớn vào giống, đất đai và điều kiện tự nhiên. Đồng thời sử dụng phân bón cũng không được để lại dư lượng nitrat quá cao, hàm lượng kim loại nặng phải dưới ngưỡng cho phép ... Từ năm 2005 đến nay, cùng với nghiên cứu bón phân hóa học, nghiên cứu sử dụng phân bón sinh học đã được quan tâm hơn.
Thực tế cho thấy phần lớn cây điều được trồng ở những vùng đất xấu: đất xám bạc màu, đất bị laterit hóa, đất cát ven biển, hơn nữa nông dân trồng điều thường nghèo nên việc bón phân chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh cho cây điều không được đầu tư đúng mức.
Cà phê là cây trồng có nhu cầu dinh dưỡng cao, kết quả nghiên cứu của Viện KHKT Nông Lâm Nghiệp Tây Nguyên cho thấy tích lũy dinh dưỡng đa, trung lượng của cây cà phê vối cao nhất là đạm, tiếp đến là kali, canxi, magie, lân, lưu huỳnh. Trong một tấn cà phê nhân co chứa từ 35-40 kg N; 6-8 kg P2O5; 40-45 kg K2O.
Sử dụng dòng đơn tính hoa cái trong sản xuất hạt lai F1 góp phần giảm rất nhiều chi phí về công lao động và thời gian cho việc khử đực (bao cách ly hoa cái). Tuy nhiên, do không có hoa đực nên việc duy trì dòng này phải có sự can thiệp bên ngoài bằng các yếu tố kỹ thuật. Nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới cho thấy cùng với các gen xác định giới tính, hormon thực vật cũng có liên quan đến quá trình hình thành giới tính của dưa chuột. Gibberellin (GA) đóng vai trò như một tác nhân biến đổi giới tính cái thành đực và ethylen có tác dụng biến giới tính đực thành cái (Pierce LK et al., 1990).
Hoa lily là một trong những loại hoa cắt cành đang được ưa chuộng tại Việt Nam. Từ đầu năm 2002-2005, Viện Nghiên cứu Rau quả đã phối hợp với Viện Di truyền Nông nghiệp nhập nội, khảo nghiệm một số giống hoa lily. Tuy nhiên hiện tại chủng loại giống hoa lily thích hợp trồng tại miền Bắc vẫn còn rất ít, nguồn giống chưa chủ động được, hàng năm vẫn phải nhập nội từ Hà Lan, Trung Quốc nên giá thành củ giống cao, bấp bênh cho sản xuất. Để khắc phục tồn tại trên đồng thời đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và thực tiễn sản xuất, năm 2008 chúng tôi tiến hành đề tài: Tuyển chọn và xây dựng quy trình nhân giống hoa lily Manissa.
Với sự phát triển của công nghệ sinh học, diện tích cây trồng biến đổi gen ngày càng tăng, lên đến 134 triệu ha trong năm 2009, trong đó đậu tương biến đổi gen chiếm 76 triệu ha. Ở Việt Nam đậu tương là cây thực phẩm quan trọng, diện tích gia tăng từ 120.000 ha năm 1995 lên 200.000 ha năm 2009, với năng suất tương ứng tăng từ 1,0 lên 1,4 tấn/ha.
Việt Nam có nguồn gen cây có củ rất phong phú, đa dạng cả về thành phần loài và giống. Cây có củ được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau, làm lương thực, thực phẩm, làm thức ăn gia súc, làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, làm thuốc và làm gia vị…
Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) và Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là những vùng sản xuất nông nghiệp chính của cả nước, đặc biệt là sản xuất lúa. Tính chung cả hai vùng, diện tích trồng lúa chiếm khoảng 68% và sản lượng chiếm trên 70% so với cả nước, riêng ĐBSCL còn là nơi sản xuất 95% lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam. Theo Cẩm nang Sử dụng đất nông nghiệp (Bộ Nông nghiệp & PTNT, 2009) và số liệu của Tổng cục Thống kê (http://www.gso.gov.vn): Diện tích đất trồng lúa ở cả hai vùng giảm đi nhưng diện tích gieo trồng lại tăng lên do hệ số sử dụng đất tăng, từ 1,49 (năm 1990) lên 1,92 (2007). Năng suất lúa tăng từ 35,7 tạ/ha (1990) lên 55,3 tạ/ha (2011).
Số trái và dạng trái đậu nành là hai yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến năng suất sau cùng của hạt. Phương pháp phân tích “Fourier Elliptic” được sử dụng trong nghiên cứu này. Tám mươi giống đậu nành có nguồn gốc khác nhau được gieo từ tháng 1 đến tháng 4/2010 tại tại lô đất thuộc Khu vực V, phường Hưng Thạnh, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.
Nghiên cứu khảo sát nguồn vật liệu bố mẹ trong chọn tạo giống ngô chịu hạn cho các tỉnh phía Nam đã được thức hiện trên 62 dòng ngô và 8 chỉ thị phân tử SSR có liên quan đến QTL chịu hạn. Khảo sát kiểu hình các dòng thuần trên điều kiện đồng ruộng, với hai chế độ nước khác nhau cho thấy có sự khác biệt lớn của các tính trạng giữa chúng.
Sản xuất lúa Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) trong những năm qua đã có sự thay đổi diện tích, trong giai đoạn 2000-2010, diện tích lúa ĐBSCL thu hẹp 6.000 ha. Riêng trong giai đoạn 2000-2005 diện tích lúa giảm 119.500 ha, sau đó phục hồi lại trong giai đoạn 2005-2010 tăng 113.500 ha. Sự tăng giảm diện tích theo các giai đoạn chủ yếu do: (i) giá cả lúa bấp bênh diện tích tăng, giảm cục bộ trong từng vụ; (ii) sự không ổn định diện tích lúa thu đông và (iii) sự tăng giảm diện tích của vụ lúa mùa (trong đó có vụ lúa trên nền đất nuôi tôm sú).
Phân bón có vai trò quan trọng trong tăng năng suất cây trồng. Tổng sản lượng nông sản tăng lên nhờ phân bón tại Việt Nam ước tính khoảng 35-40%, tại Trung Quốc khoảng 32% và trên toàn thế giới khoảng 50%. Đánh giá tổng quan hiệu quả sử dụng phân bón qua các thời kỳ để từ đó có thể định hướng nghiên cứu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đạt hiệu quả kinh tế cao, chất lượng nông sản tốt và an toàn môi trường.
Trong hơn 20 năm thời kỳ đổi mới, nông nghiệp Việt Nam đã có bước phát triển nhảy vọt, từ nền nông nghiệp tự cấp tự túc đã nhanh chóng chuyển thành nền nông nghiệp hàng hoá: hàng hoá đa dạng có năng suất, chất lượng nông sản ngày càng tăng
Hiện nay, việc áp dụng quy trình kỹ thuật “Thâm canh tổng hợp” trong sản xuất lúa cao sản rất phổ biến, đặc biệt áp dụng tiến bộ kỹ thuật “3 Giảm – 3 Tăng” như là một giải pháp chính trong chỉ đạo sản xuất lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).
Tiến bộ kỹ thuật (TBKT) quyết định tiềm năng chất lượng và sản lượng sản xuất nông nghiệp thông qua sự phát triển và cải tiến kỹ thuật. Nông dân là thành phần ảnh hưởng bởi các yếu tố ngoại sinh (cấu trúc cộng đồng, thể chế,...) và yếu tố nội sinh do nông hộ điều khiển. Nông dân là người quyết định có hay không tiếp nhận và áp dụng tiến bộ kỹ thuật và làm thế nào để sử dụng nguồn lực nhằm hỗ trợ chúng. Sự quyết định áp dụng TBKT tùy thuộc vào sự nhận định của nông dân về chúng.
Hồ tiêu (piper nigrumL.) được xem là “vua của các loại gia vị” và trở thành sản phẩm nông nghiệp quan trọng nhất của Việt Nam. Ngày nay, Việt Nam là quốc gia sản xuất và xuất khẩu hồ tiêu đứng hàng đầu trên thế giới. Bảo vệ cây trồng là rất quan trọng trong sản xuất cây hồ tiêu vì các nguồn gây hại là những nguyên nhân chính làm giảm năng suất và chất lượng hạt tiêu. Một trong những nguồn gây hại đó là tuyến trùng hại rễ (Meloidogyne spp.).
Bài viết giới thiệu một số phương pháp sản xuất, chế biến một số chủng loại phân bón hữu cơ có chất lượng cao, sử dụng nguyên liệu của địa phương do công ty Cổ phần Phân bón Bình Điền chủ trì và thực hiện. Với các loại rau ăn lá có thời gian sinh trưởng ngắn, sử dụng 20-30 tấn phân hữu cơ được chế biến cẩn thận đều có thể thay thế được phân hóa học ngay trong vụ đầu sản xuất trên nền đất xám những năm trước có sử dụng phân khoáng.
Để phục vụ cho công tác khuyến nông bài viết này đề cập đến một số nội dung liên quan đến cơ sở khoa học để phân loại phế phụ phẩm được sử dụng để làm phân bón hữu cơ. Nội dung của bài viết gồm có 5 phần chính, đó là: i) phế phụ phẩm từ ngành trồng trọt; ii) phế phụ phẩm từ ngành chăn nuôi; iii) phế phụ phẩm từ ngành thủy sản; iv) phế phụ phẩm từ sinh hoạt cộng đồng; v) nguyên tắc chung trong sử dụng phân bón hữu cơ.
Nồng độ khí nhà kính (CO2, CH4 và N2O và Halocarbons) đã tăng lên kể từ trước cách mạng công nghiệp do hoạt động của con người. Nồng độ CO2 trong khí quyển tăng từ 280 ppm vào năm 1750 lên 379 ppm năm 2005, và nồng độ N2O tăng từ 270 ppb đến 319 ppb trong cùng thời gian, còn khí CH4 trong năm 2005 rất nhiều, vào khoảng 1774 ppb, tăng hơn gấp đôi nồng độ của nó ở thời kỳ tiền công nghiệp là 750 ppb.
Tiểu môi trường xung quanh hạt phân lân hoặc trong dung dịch phân lân là đối tượng của rất nhiều phản ứng chính và phụ có thể xảy ra, ảnh hưởng mạnh đến lượng lân hữu hiệu. Tác động thúc đẩy hoặc làm chậm lại các phản ứng này là phương pháp hữu hiệu để nâng cao hiệu quả sử dụng phân lân ở dạng rắn cũng như dạng lỏng, cải thiện năng suất và hiệu quả kinh tế đồng thời có ảnh hưởng tích cực đến môi trường.
Đánh giá sự biến động của đất phèn giữa hai thời kỳ (TK) 1975 và 2005. Bản đồ đất mặn, đất phèn TK1975 được số hóa từ các bản đồ đất cũ (xây dựng vào những năm 70 của thế kỷtrước). Bản đồ đất mặn, đất phèn TK 2005 được xây dựng trong giai đoạn 2006 - 2009, bằng cách lấy mẫu bổ sung, chỉnh lý bản đồ đất TK1975. Phẫu diện đất được lấy theo hình “rẻ quạt”, lấy dày lên từ tâm ranh giới đất phèn ra phía ngoài ranh giới các loại đất khác.
Cây bông Gossypium L. bao gồm 45 loài lưỡng bội và 5 loài tứ bội (Fryxell, 1992). Bông lưỡng bội chia làm 8 bộ gen, được ký hiệu từ A đến G và K (Beasley, 1940; Wendel và Cronn, 2003) với số lượng nhiễm sắc thển = 13. Cho đến nay, có 4 loài bông được trồng lấy sợi: Hai dạng nhị bội (bông cỏ) (2n = 2x = 26): G. arboreumvà G. herbaceumvà hai dạng tứ bội (2n = 2x = 52): G. hirsutum (bông luồi) và G. barbadense (bông hải đảo). Trong đó, bông cỏ G. arboreumcó bộ gen lưỡng bội AA có các đặc tính nông sinh học tốt như chín sớm, độ bền xơ, hàm lượng dầu cao, có khả năng chống chịu điều kiện bất lợi, kháng sâu bệnh tốt... Vì thế, đây là nguồn gen được các nhà chọn giống quan tâm (Ma, 2008).
Đất xám là nhóm đất chính ở Đồng Tháp Mười, chiếm 16,10% tổng diện tích. Phần lớn trên đất này chỉ sản xuất 2 vụ lúa Đông Xuân -lúa Hè Thu. Thời gian đất bỏ hóa giữa 2 vụ khoảng 70 - 90 ngày. Mè là cây trồng cạn ngắn ngày, luân canh tăng vụ tốt trong cơ cấu lúa Đông Xuân - mè Xuân Hè - lúa Hè Thu và hiệu quả kinh tế tăng khoảng 30% so với độc canh lúa Đông Xuân - lúa Hè Thu.
Bệnh đốm lá trên nhóm rau họ thập tự với triệu chứng bệnh điển hình là đốm xanh giot dầu, sũng nước, hơi lõm so với bề mặt lá do vi khuẩn Xanhthomonas sp. gây ra. Bệnh là một trong những nguyên nhân làm giảm năng suất và chất lượng sản phẩm đáng kể, đặt biệt trong giai đọan mùa mưa.
Từ năm 2009 đến 2011, Trung tâm Hưng Lộc đã thu thập, lưu giữ và đánh giá được 855 dòng ngô nếp; 42 dòng nếp ngọt. Kết quả thử khả năng kết hợp và lai tạo được 329 tổ hợp lai. Khảo sát đánh giá và tuyển chọn được 21 tổ hợp lai ưu tú, những tổ hợp lai này có các đặc điểm: thời gian sinh trưởng 76- 79 ngày, tương đương với đối chứng MX10 và Tím dẻo 926; có hương vị thơm ngon và có độ dẻo tương đương đối chứng MX10. Xác định được 5 tổ hợp lai triển vọng nhất là VK6; VK10; VK24; VK36 và VK37.
Qua nghiên cứu cho thấy công suất/ngày của các nhà máy biến thiên từ 30 tấn cho đến 500 tấn/ngày, trung bình là 170,2 tấn/ngày. Có 20% nhà máy hoạt động vượt công suất lý thuyết/năm, từ 130 - 141%. Hầu hết số nhà máy còn lại chỉ hoạt động dưới mức công suất lý thuyết/năm. Lượng lúa xay chà hàng ngày của các nhà máy biến thiên từ 6 tấn – 500 tấn/ngày, trung bình là 136 tấn/ngày. Tỷ lệ gạo lức thu hồi cao nhất trong vụ Đông xuân (ĐX), kế đến vụ Thu Đông (TĐ) và sau cùng là vụ Hè Thu (HT), tương ứng là 73,44%; 71,67% và 68,81%. Đối với giống lúa IR 50404 cho tỷ lệ gao nguyên thu hồi cao nhất trong các giống hiện nay.
Chọn tạo giống khoai tây năng suất cao, chất lượng tốt, kháng bệnh mốc sương cho tiêu dùng tươi và chế biến công nghiệp là định hướng nghiên cứu quan trọng được tiến hành nhiều năm của Trung tâm nghiên cứu Khoai tây, Rau và Hoa (PVFC). Qua nghiên cứu, lai tạo, chọn lọc, một số dòng khoai tây kháng mốc sương, có tiềm năng năng suất cao và ổn định đã được phát triển, nhân nhanh và bước đầu khảo nghiệm.
Phân bón không chỉ có vài trò quan trọng đối với an toàn lương thực mà còn có ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe con người. Việc trao giải hòa bình năm 1970 cho tiến sĩ Norman Borlaug cho thấy thế giới đã ghi nhận mối liên kết khoa học nông nghiệp với sức khỏe cộng đồng. Tăng cường sử dụng phân bón cho cây trồng đã đẩy mạnh sản xuất trên một đơn vị diện tích, tăng nguồn cung cấp lượng thực cũng như góp phần vào cải thiện chất lượng thực phẩm như bổ sung các vi lượng thiết yếu (Tom W. Bruulsema et al., 2012 .












