Nhãn là một loại quả đặc sản quý ở nước ta và đặc biệt nổi tiếng là giống nhãn lồng Phố Hiến (Hưng Yên). Cây nhãn có khả năng thích ứng rộng, được trồng nhiều nơi.
Chuối là một loại cây được trồng phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới. Chuối có thể sống trên nhiều loại đất. Trồng chuối thu được lợi ích kinh tế cao. Chuối dễ trồng, được dùng để ăn, bán và xuất khẩu.
Việt Nam được coi là một trong những nơi xuất xứ của cây vải và hiên nay đứng thứ tư thế giới về sản lượng quả sau Đài Loan, Ấn Độ và Trung Quốc. Tuy nhiên, mấy năm gần đây tại một số vùng trồng vải tập trung đã xuất hiện những dấu hiệu suy thoái cây vải do các nguyên nhân trồng trọt hoặc bảo vệ thực vật.
Măng cụt là loại cây ăn trái nhiệt đới, được dân ta và người nước ngoài ưa thích. Nó có hình dáng đẹp và hương thơm quyến rũ. Măng cụt được trồng nhiều ở Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Philippines và Việt Nam, măng cụt có phẩm chất ngon và có giá trị thương phẩm cao.
Trên thế giới cây khế được nghiên cứu khá kỹ và được trồng như một loài cây ăn quả có gái trị. Thành tựu chọn tạo giống khế trên thới giới cũng rất đáng kể, nhiều giống khế ngon, chất lượng cao đã và đang được ứng dụng rộng rãi trong sản xuất.
Dừa là cây công nghiệp đặc hữu của một số vùng khí hậu nhiệt đới có nhiệt độ trung tâm năm 230C, thích nghi nhiều kiểu thổ nhưỡng (đất cát, đất thịt, đất laterit trên đồi, đất san hô, đất phèn mặn) có giá trị kinh tế cao và giá trị sử dụng rất đa dạng. Ở Việt Nam, dừa là cây công nghiệp truyền thống, đặc biệt thích nghi và phát triển từ đèo Hải Vân trở vào.
Điều là một loại cây trồng có rất nhiều công dụng. Nhân điều – sản phẩm chính của cây điều- là thức ăn có gái trị dinh dưỡng cao và cân đối, trong thành phần có chứa đủ các axit1 amin không thể thay thế đối với người;
Cây Điều bắt đầu được biết đến như một loại cây trồng có giá trị kinh tế ở nước ta mới chỉ trong vòng hơn 25 năm trở lại đây. Cây điều dễ trồng thích hợp trên tất các vùng sinh thái nước ta, vốn đầu tư thấp, tính chịu hạn cao vừa có giá trị thực phẩm, vừa sản xuất được dầu điều, phục vụ cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu.
Cây Điều bắt đầu được biết đến như một loại cây trồng có giá trị kinh tế ở nước ta mới chỉ trong vòng hơn 25 năm trở lại đây. Cây điều dễ trồng thích hợp trên tất các vùng sinh thái nước ta, vốn đầu tư thấp, tính chịu hạn cao vừa có giá trị thực phẩm, vừa sản xuất được dầu điều, phục vụ cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu.
Cây Điều bắt đầu được biết đến như một loại cây trồng có giá trị kinh tế ở nước ta mới chỉ trong vòng hơn 25 năm trở lại đây. Cây điều dễ trồng thích hợp trên tất các vùng sinh thái nước ta, vốn đầu tư thấp, tính chịu hạn cao vừa có giá trị thực phẩm, vừa sản xuất được dầu điều, phục vụ cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu.
Điều là loại cây trồng có nhiều triển vọng phát triển ở nước ta. Hiện nay nhân hạt điều đang là mặt hàng nông sản xuất khẩu của ta. Điều kiện khí hậu và đất đai ở nhiều vùng cho phép mở rộng diện tích trồng điều.
Ở Việt nam, xoài được trồng từ Nam chí Bắc, vùng trồng xoài tập trung là từ Bình Định trở vào nhiều nhất là các tỉnh ĐBSCL như: Tiền Giang (trên 6.000 ha), Đồng Tháp, Vĩnh Long, Cần Thơ ..
Việt nam hịên có nhiều giống mít khác nhau, do đó năng suất, chất lượng (độ ngọt, mức độ ngon) không giống nhau. Người ta tạm chi thành hai loại mít: Mít có múi khô (mít dai) và mít có múi ướt (mít mật, mít múi mềm).
Cây hồng được người xưa mệnh danh là “Thất tuyệt” bởi nhiều ưu điểm mà các cây trồng khác không có như: dể trồng, chịu khô hạn, chịu đất xâu ít thâm canh, ít sâu bệnh, cây bền – lá to tán rộng cho nhiều bóng mát.
Cuốn “Kỹ thuật trồng và chăm sóc Xoài – Na – Hồng Xiêm” nhằm cung cấp cho bạn đọc và các nhà làm vườn những hiểu biết về đặc tính sinh vật học, yêu cầu điều kiện ngoại cảnh và vùng trống thích hợp; kỹ thuật trồng trọt, chăm sóc nhằm thâm canh tăng năng suất và tăng phẩm chất
Oryza rufipogon (2n=24), hệ gien AA, phân bố rộng khắp tr6en các vùng sinh thái Việt Nam. Một dòng dẫn xuất từ O. rufipogon có nguồn gốc ở Đồng Tháp Mười được khai thác thành công trong 20 năm qua là AS996 (mẹ là IR64, trong hồi giao nhờ chỉ thị phân tử).
Kỹ thuật làm im lặng gen trên phân tử RNA (RNA silencing) được xem như một cơ chế tự nhiên có tính chất tự vệ của cây trồng đối với sự xâm nhiễm của virus gây bệnh. Do vậy, có nhiều chiến lược làm im lặng gen (gene silencing strategies) đã được phát triển và khai thác sử dụng trong thực tiễn tạo ra giống cây trồng kháng bệnh virus
Nghiên cứu phòng trừ bệnh mốc đen lá hại cà chua vụ mưa được thực hiện tại huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang từ tháng 4 đến tháng 11 năm 2009. Kết quả cho thấy Daconil 75WP, Trineb 80WP, Dithane M-45 80WP có hiệu lực ức chế nảy mầm của bào tử nấm Pseudocercospora fuligena ở mức trung bình và Antracol zinc không cho thấy hiệu lực.
Vùng Đông Nam Bộ (ĐNB) có diện tích đất xám là 744.652 ha, chiếm 31,75% tổng diện tích tự nhiên của vùng. Đất xám ĐNB chịu tác động khá lớn của quá trình rửa trôi, xói mòn, chính vì vậy, việc sử dụng các loại phân bón hữu cơ nhằm góp phần duy trì và cải thiện độ phì nhiêu của đất xám mang ý nghĩa to lớn trong việc khai thác và sử dụng một cách có hiệu quả và bền vững đối với vùng đất này.
Kết quả nghiên cứu về hiện trạng sản xuất lúa bình quân hộ được điều tra có diện tích nhỏ nhất là 0,5 ha, lớn nhất là 6,5 ha và trung bình là 2,2 ha. Có 100% số hộ sản xuất lúa Đông Xuân (ĐX) và Hè Thu (HT), chỉ có 55% hộ sản xuất vụ Thu Đông (TĐ). Năng suất trung bình vụ ĐX đạt được 7,17 T/ha (hộ đạt thấp 5 T/ha, cao nhất 8 T/ha)
Kết quả nghiên cứu về công suất/ngày của các nhà máy biến thiên từ 30 tấn cho đến 500 tấn/ngày, trung bình là 170,2 tấn/ngày. Lượng lúa xay chà thực tế/năm biến thiên khá lớn giữa các nhà máy từ 2.040 tấn/năm cho đến 100.000 tấn/năm. Trung bình là 33.360 tấn/năm. Có 20% nhà máy hoạt động vượt công suất lý thuyết/năm, từ 130 – 141%, trong khi có đến 80% nhà máy hoạt động dưới mức công suất lý thuyết/năm.
Lan hồ điệp là cây trồng có giá trị kinh tế cao đối với một số nước xuất khẩu hoa. Vi rút gây bệnh khảm vàng trên lá (CyMV) là bệnh nguy hiểm và gây hại phổ biến nhất đối với cây hoa lan trên toàn thế giới.
Nghiên cứu được thực hiện trong 2 vụ liên tục trên cùng một thửa đất và được bố trí theo kiểu khối đầy đủ ngẫu nhiên (RCBD) với 03 lần lặp lại. Các công thức thí nghiệm bao gồm: đối chứng (bón phân khoáng: 60 kg N + 60 kg P2O5 + 90 kg K2O/ha) và bón phân hữu cơ vi sinh với liều lượng: 500 – 1000 – 1500 – 2000 kg/ha/vụ
Diễn biến mực nước dưới đất tháng 10: nhìn chung mực nước có hai xu hướng dâng cao và hạ thấp so với giá trị trung bình tháng trước, tuy nhiên xu hướng dâng cao chiếm ưu thế trên toàn vùng với giá trị là 0,44m. Giá trị dâng cao nhất là 1,44m tại xã Phạm Văn Cội, huyện Củ Chi, TP Hồ Chí Minh (Q09902D) và hạ thấp nhất là 1,51m tại TT Vĩnh Hưng, huyện Vĩnh Hưng, Long An (Q02702T). Mực nước sâu nhất là 10,16m tại xã Phạm Văn Cội, huyện Củ Chi, TP Hồ Chí Minh (Q09902A).
Vùng Tây Nguyên gồm có 4 tầng chứa nước chính. Theo thứ tự từ trẻ đến già gồm: tầng chứa nước lỗ hổng bồi tích hiện đại (Q), tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pleistocen giữa (βQII), tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pliocen-Pleistocen dưới (βN2-QI) và tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng vỉa các thành tạo đầm hồ trầm tích Neogen (N).
Châu thổ sông Mêkông là một châu thổ trẻ, được hình thnafh từ khoảng 12000 năm nay, kết quả của sự tương tác giữa ba quá trình sông, sống và triều. Châu thổ còn đang có nhiều biến động. Có những giòng đang trong quá trình hình thành từ 100 năm trở lại đây. Nhiều cù lao trên sông Tiền, sông Hậu được sinh ra và ở đó được lập nên những xã, huyện mới. Nhiều nhánh sông hẹp dần cùng lúc với các cù lao lớn lên và trở thành lòng sông “cổ” trong những cù lao mới to hơn. Cửa Ba Lai và Cửa Bassac đã và đang biến động theo quá trình này.
Giống lan Hồ Điệp tiêu thụ tại Việt Nam đa số có nguồn gốc ngọai nhập, kém thích nghi với khí hậu vùng Đông Nam bộ. Vật liệu lai tạo gồm 20 giống lan Hồ Điệp nhập nội và 2 giống lan hoang dại bản địa (tiểu Hồ Điệp – Phal. pulcherrima). Kết quả có 9 tổ hợp lai phát triển thành cây, trong đó 7 tổ hợp lai có hoa, 2 tổ hợp lai giữa giống lai và lan hoang dại không cho hoa.
Trên đa số các loại cây trồng ở ĐBSCL, nhất là rau màu, phân lân được sử dụng với liều lượng rất cao mà chưa chú ý đến đặc tính độ phì lân trong đất. Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Mỹ Hoa và Đặng Duy Minh (2006) cho thấy ở nhiều ruộng khảo sát trong vùng trồng rau chuyên canh của Tiền Giang, hàm lượng lân dễ tiêu (Bray 1) đạt rất cao (129-234 mg P/kg).
Hồ tiêu là cây công nghiệp lâu năm được trồng với mật độ dày 1.500-2.500 trụ/ha và là cây chịu thâm canh, nhưng lại rất nhạy cảm với sâu bệnh. Để đạt năng suất cao và có vườn tiêu khỏe cần phải bón đầy đủ và cân đối N-P-K-Phân hữu cơ. Các nguyên tố dinh dưỡng trung, vi lượng cũng cần thiết đối với năng suất và chất lượng hạt tiêu.












