Tuần tin khoa học 984 (16-23/03/2026)
Thực phẩm GM và sức khỏe nhân loại: Một tổng quan toàn diện và phân tích xu hướng thời gian xuyên quốc gia
Nguồn: Ah Young Kim, Bora Lee, Da in Choi & Han Yong Lee. 2026. Genetically modified foods and human health: a comprehensive review and cross-national time-trend analysis. GM Crops & Food; Article: 2634489 - Published online: 02 Mar 2026
GMOs đã và đang còn là trung tâm khoa học và tranh luận xã hội kể từ khi có sự cho phép của cơ quan quản lý và giới thiệu sản phẩm ra thị trường sau đó ở thập niên 1990 s. Tổng quan này tập họp chứng cứ dịch tể học từ tư liệu khoa học bao gồm chứng cứ quan sát và những đánh giá có hệ thống trước đây, cùng với khuôn khổ chính sách quốc tế, để đánh giá các mối quan hệ tiềm tàng giữa GMO và sức khỏe nhân loại. Chứng cứ hiện tại chưa làm căn cứ các mối liên hệ nhân quả được giữa tiêu thụ nông sản GMO và bệnh ung thư, độc tính sinh sản, các dị ứng, hoặc các bệnh mãn tính khác. Chúng tôi tiến hành tìm kiếm có hệ thống trên PubMed, Web of Science, và nhiều cơ sở dữ liệu sức khỏe có tính quốc tế, áp dụng các tiếu bao gồm và loại trừ, tổng hợp cơ sở dữ liệu dịch tể học ở cấp độ từng quốc gia, sử dụng “time-trend” (xu hướng thời gian) và phân tích “Joinpoint regression” (thuật toán hồi quy có điểm nối). Trên khắp nhiều quốc gia và các loại hình bệnh tật khác nhau, không thấy sự đồng bộ về thời gian nhất quán nào giữa “GMO authorization” (sự cho phép lưu hành GMO) và thay đổi tỷ lệ bệnh, và kết quả phân tích “pooled breakpoint” cho thấy kết quả không đồng nhất với ước tính thường xuyền trùng với giá trị 0. Nhìn chung, các phát hiện này không tìm thấy được bằng chứng dịch tể học nhất quán đối với quan hệ giữa tiêu thụ sản phẩm GMO và các bệnh mãn tính phổ biến.
Xem https://www.tandfonline.com/doi/full/10.1080/21645698.2026.2634489
Meta-QTLs các gen ứng cử viên quy định tính trạng hàm lượng protein của hạt bắp
Nguồn: Ke Li, Zilong Zhao, Wei Wang, Zhuoyang Li, Fei Yi, Jinsheng Lai, Qiujie Liu, Hainan Zhao & Jian Chen. 2026. Meta-QTLs and candidate genes for kernel protein content in maize. Theoretical and Applied genetics; March 6 2026; vol. 139; article 90
Bắp là nguồn thực phẩm chủ lực và là cây trồng lương thực chính, nhưng hàm lượng protein trong hạt bắp chưa đủ để đáp ứng với nhu cầu dinh dưỡng. Làm tăng hàm lượng protein là yêu cầu bức thiết để cải tiến hiệu quả thức ăn và hỗ trợ chế độ ăn dựa vào thực vật. Cho dù có nhiều QTLs gắn liền với hàm lượng protein đã và đang được xác định, nhưng khoảng tin cậy rộng và điển hình, cũng như sai biệt giữa nhiều nghiên cứu làm cho khó khăn hơn trong xác định những gen ứng cử viên tin cậy được. Do đó, tác giả đã tiến hành phân tích meta-QTL toàn diện (MQTL) nhờ co8 sở dữ liệu tích hợp của nghiên cứu 25 QTL, bao gồm 258 QTLs đầu tiên liên quan đến hàm lượng protein hạt bắp. Bản đồ di truyền đồng thuận, mật độ cao được dựng nên bởi sự tích hợp 23 bản đồ di truyền và nhập vào 19.836 markers sang bản đồ di truyền tham chiếu IBM2_2008_Neighbors. Có tất cả 67 MQTLs được xác định, mỗi MQTL tích hợp trung bình từ 5 QTLs đầu tiên, vớ quãng tin cậy của chúng giảm xuống trung bình còn 2.51 lần. Chú ý, 18 MQTLs có quãng vật lý ngắn hơn kích thước 1 Mb, chỉ ra được độ chính xác cao trong mapping. Để minh chứng các MQTLs, người ta tiến hành phân tích GWAS về hàm ượng protein, và 15 MQTLs đã được định vị đồng vị trí với tín hiệu GWAS. Hơn nữa, trên cơ sở thành phần biểu hiện và kết quả phân tích homology (tính đồng dạng) của các loài mễ cốc, có 54 gen ứng cử viên căn bản được xác địn, bao gồm Aaap54, Tar3 và EREB133, mà giá trị homolog của chúng trên lúa hoặc đậu nành đã được minh chứng rồi để thấy vai trò quan trọng trong việc điều tiết sự tích lũy hàm lượng protein. Kết quả chứng minh được sử dụng phương pháp phân tích meta-QTL trong sàng lọc kiến trúc tính trạng phức tạp và cung cấp cơ sở khoa học về chức năng genome học và triển vọng cải tiến giống bắp cao sản có hàm lượng protein mong muốn.
Xem https://link.springer.com/article/10.1007/s00122-026-05199-5
Tích hợp transcriptomics và metabolomics tìm ra lộ trình chủ lực trong phản ứng của cây bắp ở giai đoạn vào chắc hạt khi bị ngập nước.
Nguồn: Bujin Zhou, Shaoli Wei, Jiaming Qin, Jiaxing Zheng, Bingwei Wang, Xiu Zhong, Anxia Huang, Jingdan He, Chengqiao Shi. 2026. Integrated transcriptomics and metabolomics analyses reveal key pathway responses during the grain-filling stage in maize under waterlogging stress. Front Plant Sci.; 2026 Jan 19: 16:1698890. doi: 10.3389/fpls.2025.1698890.
Tính chống chịu của cây trồng với “waterlogging” (ngập nước) ảnh hưởng đáng kể đến sức sống và năng suất hạt trong điều kiện như vậy. Làm rõ cơ chế phân tử về tính chống chịu ngập có thể giúp chúng ta phát triển giống cây trồng chịu ngập. Nghiên cứu được tiến hành thông qua phân tích có tính chất so sánh các phản ứng sinh lý, phiên mã, và biến dưỡng của giống bắp chịu ngập Guidan162 (GD) và giống bắp nhạt cảm với ngập nước Zhaofeng 588 (ZF) ở giai đoạn vào chắt hạt. Đặc điểm kiểu hình và sinh lý cho thấy: hình thái lá bắp bị ảnh hưởng, trong khi, hàm lượng peroxidase (POD), catalase (CAT) và proline tăng lên đáng kể khi cây bắp bị ngập. Phân tích transcriptomic xác định được 3280 DEGs của GD và 2260 DEGs (differentially expressed genes) của ZF ở điều kiện bình thường và bị ngập. Phân tích “KEGG enrichment” của gen DEGs cho thấy các chu trình sinh học khi cây chống chịu stress rất nhiều, bao gồm chu trình peroxisome, truyền tín hiệu hormone thực vật, và biến dưỡng arginine cũng như proline. Bên cạnh, phổ biểu hiện metabolomic cho thấy 359 và 209 cơ chất biến dưỡng DAMs (differentially abundant metabolites) khác biệt nhau trong giống GD và ZF khi có stress ngập. Nhiều cơ chất của DAMs tham gia làm nên biến dưỡng arginine và proline, truyền tín hiện thực vật, biến dưỡng glutathione metabolism. Phân tích có tính chất dung hợp giữa transcriptomic và metabolomic nhấn mạnh mức độ phong phú có ý nghĩa của abscisic acid (ABA) signaling, biến dưỡng glutathione, và sinh tổng hợp proline. Nhiều gen ứng cử viên chủ chốt như gen mã hóa arginase, PIP, P4H, PYR/PYL, PP2C, SnRK2, ABF, IDH, GPX, GGCT, OXP, và GCL có liên quan đến tính trạng chống chịu ngập. Kết quả này cung cấp cách nhìn mới về cơ chế phân tử vô cùng phức tạp về tính chịu ngập của cây bắp.
Xem https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/41635687/
Protein kinase Pi65 điều tiết tính kháng bệnh đạo ôn thông qua tín hiệu phụ thuộc vào phosphoryl hóa và tái lập trình biến dưỡng của cây lúa.
Nguồn:Lili Wang, Hongwei Chen, Xiaohang Zhou, Bowen Yan, Zhiqiang Tang, Zuobin Ma, Dianrong Ma, Wenjing Zheng. 2026. Protein kinase Pi65 regulates rice blast resistance through phosphorylation-dependent signaling and metabolic reprogramming. Front Genet.; 2026 Jan 5: 16:1715247. doi: 10.3389/fgene.2025.1715247.
Bệnh đạo ôn lúa do nấm Magnaporthe oryzae đe dọa đến an ninh lương thực toàn cầu. Do đó, dòng hóa được gen kháng, thực nghiên nhiều nghiên cứu sâu về tương tác giữa ký chủ và ký sinh, làm rõ được các chu trình kháng bệnh này, và phát triển được nguồn vật liệu bố mẹ mới rất cần cho đảm bảo an ninh lương thực. Nghiên cứu này phản ánh được gen kháng đạo ôn mã hóa protein kinase Pi65 như mục tiêu nghiên cứu và làm sao khai thác được vai trò điều tiết của nó trong phản ứng miễn dịch của cây lúa thông quan cái gọi là protein phosphorylation omics và xác minh tương tác protein. Kết quả thi nghiệm chứng minh rằng Pi65 mã hóa protein có đặc điểm hoạt tính của “autophosphorylation kinase” (kinase tự phosphoryl hóa). Trên cơ sở phân tích phosphoproteomic, có 572 và 107 DPPs (differentially regulated phosphoproteins) được xác định trong dòng lúa đột biến Pi65-knockout (KO) và dòng lúa biểu hiện gen kháng cao “Pi65-overexpression” (OE), theo thứ tự, so với cây lúa nguyên thủy (WT). Những DPPs này biểu thị các thay đổi rất đáng kể trong truyền tín hiệu, các tiến trình biến dưỡng, và xác định vị trí trong tế bào, kết quả chỉ ra rằng: biểu hiện thay đổi của Pi65 có ảnh hưởng đến kết quả bảo hòa phosphoryl hóa ở lá lúa. Phân tích tính phong phú của KEGG và GO cho thấy DPPs của dòng lúa KO chủ yếu gắn với các tến trình si nh học ví dụ chu chuyển nitrogen và có tính chất “non-homologous end joining” (NHEJ), trong khi, DPPs của dòng lúa OE nhiều vô số kể trong các chu trình liên quan đến chu trình Calvin, glycolysis, và kết gắn với RNA. Do đó, Pi65 có thề tham gia vào điều tiết biến dưỡng của tế bào bởi mô đun kiểu hệ thống phosphoryl hóa của nhân và tiến trình cải biên hậu phiên mã. Thí nghiệm minh chứng tương tác giữa protein khẳng định được Pi65 tương tác trực tiếp với protein điều tiết “redox” OsAPX4 và phân tử phosphate transporter OsPHF1, liên kết Pi65 có chức năng với hiện tượng sinh lý “redox homeostasis” (bảo hòa redox) và tín hiệu phosphorus. Kết quả cho thấy Pi65 hoạt động như một “hub” chính thức mà nó tích hợp được các tín hiệu stress sinh học, phi sinh học để làm nên mô đun kháng bệnh đạo ôn thông qua dòng chảy tín hiệu phosphoryl hóa. Tđêy là luận điểm khoa học mới đề cập đến vai trò của kinases thực vật trong phản ứng “multi-stress” và thu thập được nhiều mục tiêu ứng cử trọng yếu phục vụ cải tiến di truyền tính kháng stress của cây.
Xem: https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/41555928/
Hình: Điều hòa có tính chất đặc hiệu của những proteins phosphoryl hóa và vị trí phosphoryl hóa trên lá lúa. (A) Số protein được điều tiết kiểu up và down, số vị trí phosphorylation trong lá lúa giữa KO và WT. (B) Volcano plot của phosphosite thay đổi giữa KO và WT. (C) Số protein phosphoryl hóa được điều tiết tiết kiểu up và down, số vị trí phosphorylation trong lá lúa giữa KO và WT. (D) Volcano plot of phosphosite thay đổi giữa KO và WT. WT, wild-type; KO, knockout line; OE, over expression line.
Đặc điểm “genome-wide” của họ gen ADH (alcohol dehydrogenase) đậu nành với gen GmADH13 như một regulator tích cực giúp cây phản ứng với mặn
Sihui Wang, Zhiyuan Xu, Peng Cheng, Jun Yang, Qiang Hao, Jinfang Wang, Ziqian Cheng, Lingshi Xia, Zhenbang Hu, Xin Li & Anyu Su. 2026. Genome-wide characterization of soybean alcohol dehydrogenase (ADH) genes identifies GmADH13 as a positive regulator of the salt stress response.TAG; March 6 2026; vol. 139; article 89

Alcohol dehydrogenase (ADH) là protein, chức năng là enzyme kết gắn với kẽm (zinc-binding enzyme) phục vụ phản ứng xúc tác chuyển đổi lẫn nhau giữa ethanol và acetaldehyde, cũng như, alcohol khác và những cặp aldehyde, trong chu trình lên men rượu. Enzyme này có vai trò cực kỳ cần thiết giúp cây thích nghi với biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, sự hiểu biết về họ gen ADH của đậu nành vẫn còn rất hạn chế. Ở đây, người ta tiến hành phân tích “genome-wide”, dẫn đến kết quả xác định được 22 gen ADH của đậu nành và xếp thành 5 subfamilies trên cơ sở quan hệ huyết thống. Phân tích nguyên tố cis-regulatory kết hợp với qRT-PCR chứng minh được các gen GmADH biểu thị điều tiết kiểu “up” trong điều kiện stress phi sinh học, như khô hạn, kiềm, mặn, cũng như những kích thích của hormone. Hơn nữa, GmADHs biểu thị đặc trưng riên từng mô. Chú ý, GmADH13 biểu hiện điều tiết kiểu “up” qua nhiểu loại hình stress khác nhau, cho thấy vai trò trụ cột của nó trong cây đậu nành phản ứng với mặn. Phân tích chức năng gen cho thấy GmADH13 làm tăng sự chống chịu mặn thông qua mô đun hệ thống loại thải ROS (reactive oxygen species scavenging), duy trì “redox homeostasis”, và ổn định tỷ lệ Na⁺/K⁺ trong tế bào cây đậu nành, nhờ vậy, giảm được tổn thương do ô xi hóa kích hoạt bởi mặn. Kết quả từ thí nghiệm “hairy root” của cây transgenic ủng hộ vai trò của GmADH13 để cải tiến tính chống chịu mặn. Nghiên cứu này khai thác những hiểu biết hiện nay về họ gen ADH giúp đậu nành phản ứng với stress mặn và nhấn mạnh được mục tiêu di truyền phục vụ đậu nành chịu mặn.
Xem https://link.springer.com/article/10.1007/s00122-026-05189-7
Số lần xem: 77












