Danh mục

1. Sản xuất Hồ Tiêu trên thế giới và Việt Nam - Lịch sử cây hồ tiêu - Lịch sử phát triển và vùng trồng hồ tiêu ở Việt Nam2. Sinh học cây Hồ Tiêu- Thực vật học- Cơ sở di truyền bộ genome hồ tiêu 1- Cơ sở di truyền bộ genome hồ tiêu 2- Loài Tiêu hoang dại3. Giống cây Hồ Tiêu- Giống hồ tiêu - Kỹ thuật nhân giống vô tính- Hồ tiêu ghép4. Đất trồng và thời vụ trồng Hồ Tiêu- Đất trồng hồ tiêu- Thời vụ trồng hồ tiêu5. Một số kỹ thuật áp dụng cho cây Hồ Tiêu- Kỹ thuật canh tác- Kỹ thuật trồng hồ tiêu hữu cơ + Sản xuất hồ tiêu hữu cơ ở Việt Nam + Kỹ thuật trồng hồ tiêu hữu cơ ở Ấn Độ- Cây trụ sống phục vụ canh tác hồ tiêu- Nghiên cứu trụ sống tại Việt Nam, Phòng NC Cây Công Nghiệp, IAS- Cây che phủ đất6. Quản lý dịch hại trên cây Hồ Tiêu- Bệnh hại chính - Bệnh hại phụ- Sâu hại chính- Sâu hại phụ - Cơ sở phân tử của virus gây bệnh hồ tiêu (Piper Yellow Mottle Virus) 7. Giá trị kinh tế của cây Hồ Tiêu - Công nghệ chế biến và phẩm chất hồ tiêu - Yêu cầu của nhà nhập khẩu hồ tiêu 8. Danh mục hóa dược cho phép sử dụng trên cây Hồ Tiêu

 

Danh mục

1. Sản xuất Hồ Tiêu trên thế giới và Việt Nam - Lịch sử cây hồ tiêu - Lịch sử phát triển và vùng trồng hồ tiêu ở Việt Nam2. Sinh học cây Hồ Tiêu- Thực vật học- Cơ sở di truyền bộ genome hồ tiêu 1- Cơ sở di truyền bộ genome hồ tiêu 2- Loài Tiêu hoang dại3. Giống cây Hồ Tiêu- Giống hồ tiêu - Kỹ thuật nhân giống vô tính- Hồ tiêu ghép4. Đất trồng và thời vụ trồng Hồ Tiêu- Đất trồng hồ tiêu- Thời vụ trồng hồ tiêu5. Một số kỹ thuật áp dụng cho cây Hồ Tiêu- Kỹ thuật canh tác- Kỹ thuật trồng hồ tiêu hữu cơ + Sản xuất hồ tiêu hữu cơ ở Việt Nam + Kỹ thuật trồng hồ tiêu hữu cơ ở Ấn Độ- Cây trụ sống phục vụ canh tác hồ tiêu- Nghiên cứu trụ sống tại Việt Nam, Phòng NC Cây Công Nghiệp, IAS- Cây che phủ đất6. Quản lý dịch hại trên cây Hồ Tiêu- Bệnh hại chính - Bệnh hại phụ- Sâu hại chính- Sâu hại phụ - Cơ sở phân tử của virus gây bệnh hồ tiêu (Piper Yellow Mottle Virus) 7. Giá trị kinh tế của cây Hồ Tiêu - Công nghệ chế biến và phẩm chất hồ tiêu - Yêu cầu của nhà nhập khẩu hồ tiêu 8. Danh mục hóa dược cho phép sử dụng trên cây Hồ Tiêu

- Bệnh hại chính

Bệnh chết nhanh

1. Tổng quan

            Tác nhân gây bệnh:                 Phytophthora capsici

            Sự phân bố:                           Tất cả các nước trồng hồ tiêu

            Bộ phận bị hại:                        Rễ, thân, lá, cành (nhánh) và quả

Bệnh chết nhanh gây thiệt hại nặng nề trên cành giâm. Bệnh gây ra bởi P. capsici. Trong mùa mưa những vết bệnh úng nước màu đen với mép phát triển điển hình xuất hiện trên các lá sau đó lan ra toàn bộ lá. Nếu chồi để nhân giống được chọn từ vườn nhiễm bệnh, sự thiệt hại do bệnh càng nghiêm trọng hơn. Trong điều kiện thích hợp, nguồn bệnh tấn công rễ đang phát triển và gây thối rễ. Bệnh có thể phòng trừ bằng cách nhân giống từ chồi của cây khỏe mạnh hoặc loại bỏ phần đất dính vào cành giâm bằng cách rữa sạch với nước và xử lý với thuốc trừ nấm. Phun dung dịch bordeaux 1% định kỳ 2 tuần 1 lần trên cành giâm trong mùa mưa để phòng ngừa bệnh.

2. Triệu chứng bệnh

- Trên lá xuất hiện 1 hoặc nhiều đốm đen có những sợi mịn điển hình, như phóng ra ở mép vết bệnh. Sau đó vết bệnh lan ra nhanh chóng và làm rụng lá.

- Phần cuống của quả bệnh có màu đen, bệnh có thể làm rụng quả và thối quả.

- Các lá non và đỉnh chồi mọng nước của các chồi mới mọc bò trên mặt đất chuyển sang màu đen khi bị nhiễm bệnh. Bệnh lây lan ra toàn bộ cây từ những chồi và lá non bị bệnh trong lúc mưa làm cho hạt mưa văng ra.

- Nếu dây chính ở sát mặt đất và phần cổ rễ bị bệnh, toàn bộ dây tiêu sẽ bị héo làm cho lá rụng và các quả có hoặc không xuất hiện những đốm đen. Các nhánh cây hồ tiêu bị gãy ở các đốt và toàn bộ dây sẽ gãy rụng trong khoảng 1 tháng.

- Nếu bệnh gây hại ở rễ, sự biểu hiện triệu chứng là chậm cho tới khi hết mùa mưa và dây tiêu bắt đầu biểu hiện triệu chứng suy tàn như: cây ngả vàng, héo, rụng lá và khô 1 phần dây chính. Triệu chứng này có thể xảy ra từ tháng 10 đến tháng 11 trở đi. Những dây này có thể phục hồi sau mùa mưa và sống thêm 2 vụ cho tới khi cổ rễ bệnh bị thối và dây chết. Triệu chứng thối và đen có thể quan sát thấy ở rễ cây bệnh. Nếu vùng cổ rễ bị bệnh sẽ có dịch nhầy và mùi hôi.

    

Một số hình ảnh bệnh chết nhanh trên cây hồ tiêu

3. Sự lây lan

Nấm Phytophthora tồn tại trong đất dạng ngủ nghỉ trong mùa khô và bắt đầu hoạt động trong mùa mưa khi ẩm độ đất tăng lên. Bệnh lây lan qua cây giống nhiễm bệnh, sự di chuyển của bào tử động trong đất, hạt mưa bắn đi mang theo mầm bệnh, dụng cụ lao động, sự di chuyển của nông dân và động vật. Bệnh có 2 giai đoạn tồn tại là trong không khí và trong đất.

3.1 Giai đoạn trong không khí

Giai đoạn nấm tồn tại trong không khí gây bệnh trên lá, thân và hoa. Trong mùa mưa bệnh xuất hiện trên lá non, mọc gần mặt đất với triệu chứng xuất hiện như: đốm màu nâu đen, sau đó lây lan nhanh chóng, rồi lan khắp hết lá. Những đốm trên lá có đặc điểm đáng chú ý là có lớp tơ ở mép vết bệnh. Lá bị bệnh sẽ bị rụng sớm. Thêm vào đó, nấm gây bệnh tấn công phần thân non và gây thối thân. Khi thân hoặc nhánh xuất hiện triệu chứng nhiễm bệnh, tán lá phía trên chuyển sang màu vàng và đôi khi biểu hiện “héo lá”. Sự xâm nhiễm trên lá bắt đầu từ chồi ở phần gốc thân chính, hoặc lá non ở dưới tán thấp của cây. Khi đất văng lên lúc trời mưa, các lá bị nhiễm bệnh và thối. Ở các vết bệnh trên lá, các “túi bào tử động” được hình thành và từ đó những bào tử chạy vào trong giọt nước. Trong mùa mưa bệnh lây lan dần dần từ dây gần mặt đất lên những phần trên qua giọt nước mưa bị bắn lên. Bệnh cũng lây lan từ dây này sang dây khác qua giọt nước mưa. Bệnh gây hại trên lá, dẫn đến rụng lá với các mức độ khác nhau, trên các nhánh khác nhau, tùy theo mức độ gây hại của bệnh. Tuy nhiên, sự nhiễm bệnh trên lá không làm chết cây. Bệnh làm cây giảm sức đề kháng.

3.2 Giai đoạn trong đất

Khi mùa mưa bắt đầu, ẩm độ đất tăng lên. Ẩm độ đất làm bào tử nghỉ của nấm P. capsici nẩy mầm và hình thành sợi nấm, túi động bào tử (dạng hình quả lê), đây là giai đoạn vô tính trong chu kỳ sống của nấm Phytophthora. Đây cũng là giai đoạn bệnh phát tán rất nhanh trong chu kỳ phát triển của nấm. Khi ẩm độ đất tăng cao, động bào tử được phóng thích ra ngoài từ túi bào tử; sau đó di chuyển trong giọt nước và phát tán nguồn bệnh. Những động bào tử này sẽ di chuyển và tiếp xúc với rễ cây và xâm nhiễm gây bệnh. Trong mùa mưa, ẩm độ đất tăng lên, hệ thống rễ bắt đầu phát triển mạnh, những rễ tơ mới phát triển rất dễ bị bệnh xâm nhiễm. Bào tử nấm trong đất xâm nhập vào cây qua rễ tơ này và gây thối rễ. Sự nhiễm bệnh bắt đầu ở hệ thống rễ tơ, sau đó lây lan sang rễ chính, cuối cùng là vùng cổ rễ, hoặc vùng gốc cây. Dựa vào mức độ xâm nhiễm của bệnh, cây sẽ biểu hiện thông qua nhiều triệu chứng khác nhau như: tán lá chuyển vàng, gãy thân ở các đốt, héo và rụng lá. Khi bệnh xuất hiện ở phần gốc cây, toàn bộ cây sẽ tàn lụi và làm chết cây vì thế nông dân gọi bệnh này là bệnh chết nhanh. Bệnh lây lan dần sang các cây bên cạnh và dẫn đến chết cây hàng loạt. Bệnh gây hại phần gốc và thân là rất nguy hiểm và gây chết cây.

3.3 Thời điểm gây hại

Bệnh thường gây hại trong giai đoạn mùa mưa hàng năm, từ tháng 6, 7 đến tháng 8, 9 ở In-đô-nê-xi-a và từ tháng 1 đến tháng 3 ở In-đô-nê-xi-a và Ma-lai-xi-a.

4. Nguồn bệnh

Tác nhân gây bệnh: Phytophthora capsici

5.  Biện pháp phòng trừ

Bệnh chết nhanh có thể phòng trừ bằng biện pháp phòng trừ tổng hợp sau:

5.1 Vệ sinh vườn tiêu

Mang ra khỏi vườn và tiêu hủy những dây tiêu đã chết là biện pháp rất quan trọng để làm hạn chế sự tích lũy nguồn bệnh trong vườn. Cây giống phải được chọn từ cây khỏe mạnh và đất làm vườn ươm phải được xử lý bằng biện pháp xông đất hoặc phơi đất.

5.2 Biện pháp canh tác

Sự tổn thương bộ rễ cây do việc chăm sóc cây gây ra như xới gốc nên hạn chế. Những chồi non khỏe không cho bò trên mặt đất. nên cắt bỏ hoặc là cho leo lên phía trên. Cắt nhánh của cây trụ bên phía gió nam thổi để tránh tăng ẩm độ và để giúp cây nhận được ánh sáng tốt hơn. Giảm ẩm độ và tăng khả năng hấp thu ánh sáng sẽ làm hạn chế sự xâm nhiễm bệnh trên lá. Thoát thủy tốt là khâu có tính chất quyết định.

5.3 Biện pháp hóa học

Sau khi có 1 vài cơn mưa đầu mùa (tháng 5, và 6) xử lý gốc hồ tiêu bằng thuốc có gốc đồng, nồng độ 0,2%  với lượng nước 5-10 L/cây. Tán lá được phun bằng Bordeaux 1%. Xử lý gốc và phun lên lá lần 2 vào tháng 8, và 9. Xử lý gốc lần thứ 3 vào tháng 10, nếu mùa mưa kéo dài.

Sau khi có 1 vài cơn mưa đầu mùa, nên xử lý gốc với potassium phosphonate 0,3%, mỗi cây xử lý 5 đến 10 lít. Tán lá phun với thuốc potassium phosphonate 0,3%. Xử lý gốc và phun lên lá lần 2 với potassium phosphonate 0,3% vào tháng 8, và 9. Xử lý gốc lần thứ 3 vào tháng 10 nếu mùa mưa kéo dài.

Đầu mùa mưa xử lý gốc với 0,125% metalaxyl-mancozeb, mỗi cây xử lý 5 đến 10 L. Tán lá phun với thuốc metalaxyl-mancozeb 0,125%.

Chú ý: Nếu sử dụng những tác nhân phòng trừ sinh học trong phòng trừ bệnh, thì không xử lý copper oxychloride. Khoảng cách giữa 2 lần xử lý ít nhất là 40 ngày.

5.4 Biện pháp phòng trừ sinh học

Phơi đất hoặc bổ sung phân có nguồn gốc Trichoderma sp., Pseudomonas fluorescens, nấm ký sinh vùng rễ để kích thích sự phát triển rễ của cành giâm trong vườn ươm.

Bón Trichoderma spp., Pseudomonas flourescence, nấm ký sinh vùng rễ vào gốc hồ tiêu vào đầu mùa mưa kết hợp với chất hữu cơ như (phân chuồng, phân rác hoặc bánh dầu cây neem) 1-2 lần/năm.

5.5 Giống kháng

Sử dụng giống kháng, một số giống kháng với nấm Phytophthora như: IISR-Sakthi, IISR-Thevam, Natar-1 and Petaling-2. Nói đúng ra, đây chỉ là những giống có khả năng chống chịu tốt với Phytopthora.

Bệnh chết chậm (vàng lá)

1. Tổng quan

            Tác nhân gây bệnh: Tuyến trùng          Radopholus similis
                                                                    Meloidogyne spp.
                                          Vi nấm                P. capsici
                                                                    Fusarium solani (+ nhiều đối tượng nữa)

            Sự phân bố triệu chứng bệnh tại các nước Ấn độ, In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a

Bộ phận bị hại: Rễ tiêu

Bệnh chết chậm (vàng lá) là bệnh làm giảm sự phát triển của cây hồ tiêu. Trên cây bị bệnh, các lông hút bị chết ở nhiều mức độ khác nhau, những triệu chứng biểu hiện tại bộ phận ở trên cao của cây quan sát được, sau khi những lông hút bị chết đáng kể. Mặc dù có một số loài tuyến trùng ký sinh thực vật đã được báo cáo trên cây hồ tiêu, Meloidogyne spp. và Radopholus simlis là 2 loài chính gây thiệt hại kinh tế quan trọng nhất và có liên can đến bệnh chết chậm. Thiệt hại do tuyến trùng ký sinh kết hợp với nấm Phytophthora capsici đã được báo cáo ở Ấn độ. Tại In-đô-nê-xi-a và Ma-lai-xi-a, bệnh chết chậm gây ra bởi một trong hai loài tuyến trùng ký sinh (R. similisM. incognita) kết hợp với Fusarium solani đã được báo cáo.

2. Triệu chứng bệnh

Tuyến trùng R. similis gây ra những tổn thương trên các lông hút làm hoại tử rễ. Sau đó tấn công sang hệ thống rễ trưởng thành của cây. M. incognita gây bướu rễ hoặc mụn trên hệ thống rễ. Những mụn này được nhìn thấy ở cả trên hệ lông hút mới cũng như trên những rễ đã trưởng thành. Những rễ bị tổn thương do 2 loài tuyến trùng ký sinh, làm suy yếu sự vận chuyển nước và muối khoáng lên trên cây. Sự mất đi hệ thống lông hút dẫn đến các triệu chứng thiếu dinh dưỡng. Rễ tổn thương làm cho lá cây bị vàng, gân lá úa vàng, cháy ở chóp lá và chết ngược dây chính. Không giống bệnh hại do Phytophthora, bệnh chết chậm làm giảm sự sinh trưởng và năng suất của cây, làm cây suy yếu từ từ và cuối cùng dẫn đến chết toàn bộ cây trong một vài năm nên được gọi là bệnh chết chậm. Lông hút bị chết do P. capsici và F. Solani, hoặc tuyến trùng ký sinh, đều cho kết quả giảm kích thước tán cây so với cây khỏe mạnh. Bệnh làm cây suy yếu từ từ và cuối cùng là chết toàn bộ cây. Màu nâu của các mô mạch dẫn được quan sát thấy trong trường hợp nấm Fusarium spp. có mặt.

3. Sự lây lan của bệnh

Bệnh lây lan chủ yếu qua vật liệu trồng nhiễm bệnh. Nước trong đất, sự tiếp xúc của rễ, qua dụng cụ lao động có mang mầm bệnh.

4. Thời điểm gây hại

Bệnh xuất hiện quanh năm nhưng gây hại chủ yếu khi ẩm độ cao. Tuy nhiên, cây bị bệnh biểu hiện tán lá vàng từ tháng 10 trở đi cùng thời điểm với ẩm độ đất giảm. Khi mùa mưa bắt đầu khoảng tháng 5, tháng 6, một vài cây bị bệnh phục hồi và tán lá xanh trở lại. Tuy nhiên, triệu chứng bệnh sẽ lại xuất hiện trong vụ sau, khi hết mùa mưa. Cây hồ tiêu bệnh sẽ dần dần suy yếu và mất năng suất.

5. Nguồn bệnh

Tác nhân gây bệnh

6. Biện pháp phòng trừ

Biện pháp phòng trừ tổng hợp tuyến trùng bao gồm: Biện pháp canh tác, giống kháng và tác nhân phòng trừ sinh học và hạn chế sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật.

6.1 Vệ sinh vườn hồ tiêu

Cây bị bệnh nặng, phục hồi chậm, nên được đem ra khỏi vườn và tiêu hủy. Xử lý hố trồng với Phorate 10 G 15g/hố hoặc Carbofuran 3G 50g/hố; trước khi trồng. Đây là biện pháp làm giảm mật số và sự lây lan của nguồn bệnh.

6.2 Biện pháp canh tác

Để phòng trừ sự gây hại của tuyến trùng trong vườn ươm, chọn chồi tiêu làm cây giống phải từ vườn hồ tiêu không có tuyến trùng. Đất làm vườn ươm nên được xử lý thông qua kỹ thuật phơi đất, điều này sẽ có hiệu quả trong việc làm giảm mật số và giúp sản xuất cây giống sạch bệnh. Vườn hồ tiêu phải thường xuyên đủ bóng mát. Cây trụ sống nào mẫn cảm với tuyến trùng không được dùng cho canh tác hồ tiêu. Bổ sung hữu cơ cho cây qua các dạng phân bón hữu cơ, phế phụ phẩm cây trồng, phân xanh, bánh dầu từ hạt, dịch chiết cây trồng… để cải thiện cấu trúc đất và giúp vi sinh vật có ích phát triển, nhằm hạn chế sự gây hại của tuyến trùng. Bổ sung bánh dầu của cây neem 2 kg/cây, bón 2 lần/năm kết hợp với loại phân bón khuyên cáo, sẽ rất có hiệu quả trong việc hạn chế mật số tuyến trùng M. incognita.

6.3 Biện pháp hóa học

Xử lý Phorate 10 G 30g/trụ hoặc Carbofuran 3 G 100 g/trụ lần 1 vào tháng 5, 6 và lần 2 vào tháng 9, 10. Sau khi xử lý Phorate các hố trồng tiêu nên được tưới ướt đẫm với Copper oxychloride 0,2% hoặc Potassium phosphonate 0,3% hoặc Metalaxly 0,125%. Đất trồng nên được cào nhẹ nhàng quanh vùng rễ mà không gây tổn thương đến hệ rễ, và thuốc trừ tuyến trùng nên được tưới đều xung quanh gốc và phủ đất lại sau khi xử lý xong. Nên giữ đất ẩm trong thời gian xử lý thuốc trừ tuyến trùng. Xử lý bệnh ở giai đoạn bệnh mới xuất hiện cho hiệu quả phòng trừ cao.

6.4 Biện pháp phòng trừ sinh học

Các vi sinh vật đất rất đa dạng, chúng hoặc là sinh vật ăn thịt hoặc là sinh vật đối kháng với tuyến trùng ký sinh gây hại cây trồng.Tuyến trùng ký sinh cây trồng mẫn cảm với rất nhiều loại nấm và vi khuẩn. Rất nhiều dòng nấm Trichoderma spp., Paecilomyces lilacinus, Pochonia chlamydosporia, Pseudomonas fluorescens… rất có hiệu quả trong việc phòng trừ tuyến trùng. Bổ sung VAM làm tăng cường sự phát triển của cây trồng do đó hạn chế sự tấn công gây hại của tuyến trùng.

Phơi đất vườm ươm hoặc trộn với Trichoderma spp., Pseudomonas fluorescens, VAM hay Pochonia chlamydosporia để tăng khả năng sinh trưởng của cành giâm.

Trong điều kiện đồng ruộng, bổ sung Trichoderma spp., Pseudomonas fluorescens, Pochonia chlamydosporia đầu mùa mưa (1 hoặc 2 lần 1 năm) kết hợp với phân bón hữu cơ, phân chuồng, bánh dầu neem…

Biện pháp phòng trừ sinh học có thể không có hiệu quả khi tỷ lệ bệnh nặng (> 20%). Thuốc gốc đồng (Bordeau, Copper oxychloride) có hại đối với tác nhân phòng trừ sinh học vì thế áp dụng biện pháp phòng trừ sinh học không nên xử lý thuốc gốc Copper oxychloride.

6.5 Giống kháng

Theo những tài liệu nước ngoài, giống Pournami là giống hồ tiêu kháng với tuyến trùng M. incognita. Giống Balankotta, Jambi, Hybrid – 10 (Giống lai F1 của Balankotta Kuching) ít mẫn cảm với tuyến trùng M. incognita. Loài hồ tiêu hoang dại Piper colubrinumP. aduncum kháng tốt với tuyến trùng M. incognita. Loài hồ tiêu P. colubrinum cũng kháng được tuyến trùng R. similis.

Bệnh thán thư

1. Tóm tắt

Tác nhân gây bệnh:           Colletotrichum gloeosporioides / C. piperis / C. capsici

Phân bố:                            Ấn Độ, In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a, Bra-xin

Bộ phận bị hại:                   Lá, chồi, cành và quả.

Tại Ấn Độ, bệnh này được biết đến là bệnh nấm ‘pollu’. Tại Ma-lai-xi-a / In-đô-nê-xi-a, bệnh này được ghi nhận là bệnh quả đen (black berry). Bệnh thường xuất hiện trên lá, quả và phần non của thân cây. Sự kết hợp gây bệnh của C. gloeosporioides và tảo đỏ, Cephaleures virescens, đã được ghi nhận ở Bra-xin.

2. Triệu chứng bệnh

Tại Ấn Độ, triệu chứng điển hình của bệnh là những đốm úa vàng có góc cạnh bao quanh bởi quần vàng. Những vùng có vết đốm lớn rất dễ nhận thấy và thường các phần lá bị hoại tử sẽ bong ra để lại những lỗ hổng trên lá.

Cuống quả nhiễm bệnh chuyển dần sang màu đen, xoắn lại và rụng đi. Bệnh bắt đầu từ mút của cuống hoa lan dần lên phía trên.

Những quả ở gần cuối của chùm hoa phát triển cho đến chín mà không bị những vết đốm đen.  Những hạt gần phần bị bệnh thì nhỏ hơn. Bệnh cũng gây ra một vết nứt nhẹ trên một số quả và ảnh hưởng đến sự phát triển sau này của quả. Những quả bị bệnh khô dần và vẫn tồn tại trên cuống quả như các quả hồ tiêu bị lép.

Nấm bệnh gây hoại tử và rụng cuống. Nhìn chung bệnh thán thư trên cây hồ tiêu cả ở Ấn Độ và Ma-lai-xi-a đều là nguyên nhân gây rụng cuống quả.

  Những vết bệnh có góc cạnh ở lá               Lá non bị nhiễm bệnh                          Lá già bị nhiễm bệnh

Triệu chứng bệnh thán thư trên cuống quả và lá

     Lá, cuống quả và cành tiêu bị nhiễm bệnh                          Cây hồ tiêu nhiễm bệnh thán thư                      

3. Phương thức lan truyền

Sự xâm nhiễm bệnh bắt đầu khi cây ra hoa và phát triển ở các giai đoạn tiếp theo. Bệnh thán thư chủ yếu lan truyền nhờ nước mưa văng ra.

4. Thời gian xuất  hiện

Bệnh xuất hiện vào cuối thời kì gió mùa

5. Tác nhân gây bệnh

Nấm gây bệnh:  Colletotrichum gloeosporioides / C. piperis / C. capsici

6. Biện pháp phòng trừ

6.1 Biện pháp canh tác

Tưới cho cây hồ tiêu trong suốt những tháng hè cho thấy giảm đáng kể triệu chứng bệnh. Điều khiển hình dáng cây trụ hồ tiêu phù hợp là rất cần thiết đối với việc quản lý bệnh thán thư.

6.2 Biện pháp hóa học

Tại Ấn Độ, hỗn hợp Bordeaux được đề nghị phun để hạn chế bệnh thán thư vào trước và sau mùa mưa. Ở Malaixia, những thuốc trừ nấm sau được đề xuất để phun và tần suất phun phụ thuộc vào điều kiện thời tiết của địa phương. Prochloraz manganese chloride (WP 50%) được phun với nồng độ 4,5 mg/lít, 3 lần/năm, các lần phun cách nhau 14 ngày khi 50% chùm quả xuất hiện đến trước thu hoạch 30 ngày. Sử dụng Carbendazim (WP 50%) phun với nồng độ 0,65 mg /lít, tối đa 6 lần trong một vụ đến trước thu hoạch 14 ngày.  Phun Neutralized phosphorous acid (28%) với nồng độ 0,05%, 3 lần/năm, cách nhau 14 ngày/lần khi 50% chùm quả xuất hiện. Những khuyến cáo tương tự cũng được đưa ra ở Bra-xin.

Bệnh tiêu điên (Stunted disease)

1. Tóm tắt

Tác nhân:                   Cucumber mosaic virus (CMV)

Phân bố:                    Ấn Độ, Indonesia

Bộ phận bị hại:            Toàn bộ cây hồ tiêu.

Bệnh tiêu điên còn được gọi là bệnh lá nhỏ, bệnh khảm, bệnh xoắn lá hay bệnh lá liềm. Tại Ấn Độ, bệnh được thông báo đầu tiên trong vườn ươm cây giống hồ tiêu của chính phủ tại Neriamangalam ở Idukki, thuộc tỉnh Kerala, trong năm 1975. Bệnh đã truyền qua cành tiêu ghép, cũng như cho cây dưa chuột và các cây kí chủ họ cà (Solanaceae), đây là những cây thể hiện triệu chứng khảm đặc trưng. Hiện nay virus này đã được xác định là một nòi của virus khảm dưa chuột (CMV). Dựa vào kỹ thuật kháng huyết thanh, virus này có liên quan đến bệnh khảm trên cây chuối, cà và ớt.

2. Triệu chứng bệnh

Lá của những cây hồ tiêu bị bệnh thể hiện triệu chứng khảm điển hình với những vùng màu xanh nhạt và xanh đậm hoặc xanh và vàng. Các lá hình thành sau đó nhỏ, nhăn nheo, giòn, dày với những mảng/dải úa vàng. Trong một số trường hợp, các lá bánh tẻ và trưởng thành cho thấy diện tích úa vàng rộng, lá nhỏ lại, méo mó, kích thước lá giảm, các lá này có hình lưỡi liềm hay xuất hiện nếp nhăn. Cây hồ tiêu bị bệnh phát triển còi cọc bởi vì sự chụm lại của các lá và cành bị bệnh thể hiện triệu chứng chùn ngọn ở các thời kỳ phát triển. Cây hồ tiêu rụng lá và quả để lại một cây trụi lá. Cây hiếm khi bị chết nhưng năng suất giảm đi nhanh chóng.

Lá trên hom giống bị biến vàng

Lá tiêu bị đốm vàng

      Lá tiêu dày lên với các triệu chứng khảm                              Cây hồ tiêu bị còi cọc do nhiễm virus

      Lá tiêu bị nhăn và các triệu chứng khảm                                 Vết khảm trên lá tiêu            

3. Phương thức lây truyền bệnh

Bệnh lây lan qua hom bị nhiễm bệnh, mắt ghép, nhựa cây, dao cắt và dụng cụ ghép. Lây truyền bệnh thông qua vector côn trùng đã được báo cáo từ các nước trồng hồ tiêu. Toxoptera aurauntiiAphis gossypii là hai loài rệp đã được báo cáo về khả năng lây truyền  bệnh này.

4. Vi sinh vật gây bệnh: Cucumber Mosaic Virus (CMV)

                      Lá tiêu bị đốm vàng                              Lá bị nhiễm bệnh với nhiều triệu chứng khác nhau

Virus đốm vàng tiêu (Pepper yellow mottle virus)              Virus khảm dưa chuột (Cucumber Mosaic Virus)

5. Biện pháp phòng trừ bao gồm các nội dung

Vệ sinh đồng ruộng

Biện pháp canh tác

Biện pháp hóa học

Phòng trừ sinh học

Người ta chưa có nhiều tài liệu đề cập đến các biện pháp quản lý bệnh tiêu điên. Chúng ta cần nhiều thời gian để nghiên cứu bệnh này một cách hệ thống hơn.

Đơn vị thành viên
Liên kết đối tác

Viện Khoa Học Kỹ Thuật Nông Nghiệp Miền Nam
Địa chỉ: 121 Nguyễn Bỉnh Khiêm, P. Tân Định, TP.HCM
Điện thoại: 028. 38234076 –  38228371
Website : http://iasvn.org - Email: iasvn@vnn.vn