Danh mục

1. Sản xuất Hồ Tiêu trên thế giới và Việt Nam - Lịch sử cây hồ tiêu - Lịch sử phát triển và vùng trồng hồ tiêu ở Việt Nam2. Sinh học cây Hồ Tiêu- Thực vật học- Cơ sở di truyền bộ genome hồ tiêu 1- Cơ sở di truyền bộ genome hồ tiêu 2- Loài Tiêu hoang dại3. Giống cây Hồ Tiêu- Giống hồ tiêu - Kỹ thuật nhân giống vô tính- Hồ tiêu ghép4. Đất trồng và thời vụ trồng Hồ Tiêu- Đất trồng hồ tiêu- Thời vụ trồng hồ tiêu5. Một số kỹ thuật áp dụng cho cây Hồ Tiêu- Kỹ thuật canh tác- Kỹ thuật trồng hồ tiêu hữu cơ + Sản xuất hồ tiêu hữu cơ ở Việt Nam + Kỹ thuật trồng hồ tiêu hữu cơ ở Ấn Độ- Cây trụ sống phục vụ canh tác hồ tiêu- Nghiên cứu trụ sống tại Việt Nam, Phòng NC Cây Công Nghiệp, IAS- Cây che phủ đất6. Quản lý dịch hại trên cây Hồ Tiêu- Bệnh hại chính - Bệnh hại phụ- Sâu hại chính- Sâu hại phụ - Cơ sở phân tử của virus gây bệnh hồ tiêu (Piper Yellow Mottle Virus) 7. Giá trị kinh tế của cây Hồ Tiêu - Công nghệ chế biến và phẩm chất hồ tiêu - Yêu cầu của nhà nhập khẩu hồ tiêu 8. Danh mục hóa dược cho phép sử dụng trên cây Hồ Tiêu

 

Danh mục

1. Sản xuất Hồ Tiêu trên thế giới và Việt Nam - Lịch sử cây hồ tiêu - Lịch sử phát triển và vùng trồng hồ tiêu ở Việt Nam2. Sinh học cây Hồ Tiêu- Thực vật học- Cơ sở di truyền bộ genome hồ tiêu 1- Cơ sở di truyền bộ genome hồ tiêu 2- Loài Tiêu hoang dại3. Giống cây Hồ Tiêu- Giống hồ tiêu - Kỹ thuật nhân giống vô tính- Hồ tiêu ghép4. Đất trồng và thời vụ trồng Hồ Tiêu- Đất trồng hồ tiêu- Thời vụ trồng hồ tiêu5. Một số kỹ thuật áp dụng cho cây Hồ Tiêu- Kỹ thuật canh tác- Kỹ thuật trồng hồ tiêu hữu cơ + Sản xuất hồ tiêu hữu cơ ở Việt Nam + Kỹ thuật trồng hồ tiêu hữu cơ ở Ấn Độ- Cây trụ sống phục vụ canh tác hồ tiêu- Nghiên cứu trụ sống tại Việt Nam, Phòng NC Cây Công Nghiệp, IAS- Cây che phủ đất6. Quản lý dịch hại trên cây Hồ Tiêu- Bệnh hại chính - Bệnh hại phụ- Sâu hại chính- Sâu hại phụ - Cơ sở phân tử của virus gây bệnh hồ tiêu (Piper Yellow Mottle Virus) 7. Giá trị kinh tế của cây Hồ Tiêu - Công nghệ chế biến và phẩm chất hồ tiêu - Yêu cầu của nhà nhập khẩu hồ tiêu 8. Danh mục hóa dược cho phép sử dụng trên cây Hồ Tiêu

- Sâu hại chính

Sâu đục thân

1. Tóm tắt

Tên khoa học:           Lophobaris piperis

Phân bố:                  In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a

Vị trí gây hại:            Hoa, trái, chồi và cành non

Sâu đục thân Lophobaris piperis là loài sâu hại nghiêm trọng nhất trên hồ tiêu ở In-đô-nê-xi-a và Ma-lai-xi-a. Thất thoát năng suất do loài này gây nên ước tính gần 10 triệu đô la mỗi năm.

2. Vòng đời

Sâu đục thân Lophobaris piperis đẻ trứng trong các mô hư. Trứng có kích thước nhỏ, hình bầu dục màu trắng, đường kính khoảng 0,8mm và thường thấy nằm dưới lớp biểu bì của đốt thân bị hại. Mỗi thành trùng sâu đục thân cái đẻ khoảng 200 trứng trong suốt vòng đời sinh trưởng, nhưng chỉ đẻ 1-2 trứng một lần. Giai đoạn trứng kéo dài từ 3-6 ngày, sâu  non sau đó nở ra và phát triển bên trong thân bị hại. Sau 5 lần lột xác trong vòng 35 ngày bên trong thân tiêu, sâu non hóa nhộng. Giai đoạn nhộng thường kéo dài 1 tuần. Nhộng vũ hóa thành côn trùng cánh cứng (Coleoptera), trưởng thành sau 2-3 ngày và chui ra khỏi thân tiêu qua các lỗ đục và sống đến 1 năm rưỡi. Con trưởng thành màu đen dài từ 3-5 mm, tấn công trên cành non, nhánh non và chồi tiêu.

3. Đặc điểm gây hại

Sâu non đục vào các đốt thân của chồi và hoa làm chồi bị héo. Phần trên của thân cây hồ tiêu bị gãy và chết cây. Sâu gây hại trên trái làm trái có thể bị rụng sớm hoặc phát triển với kích thước nhỏ hơn bình thường. Sâu đục thân cái đục vào thân và tạo thành 1 lỗ nhỏ. Khi sâu cái đẻ trứng vào thân, lớp mô cây xung quanh lỗ đục trở nên sẫm màu và đen ngay lập tức sau vài giờ.

Lá tiêu bị sâu đục thân hại                                           Ấu trùng sâu đục thân tiêu

      Dây tiêu bị chết phần trên do sâu đục thân                              Ấu trùng sâu đục thân gây hại    

Dây tiêu bị đen do sâu đục thân

4. Thời điểm gây hại

Ấu trùng phát triển mạnh với số lượng nhiều vào mùa mưa và ít phát triển vào mùa khô. Sâu trưởng thành phát triển mạnh vào cuối mùa mưa khi cây ra hoa kết quả. Sâu đục thân thường xuất hiện vào buổi sáng và buổi tối, chúng thường núp trong thân cây vào buổi trưa để tránh nắng.

Thành trùng và ấu trùng sâu đục thân Lophobaris piperis

5. Biện pháp phòng trừ

5.1 Vệ sinh vườn tiêu

Cắt bỏ cành và nhánh bị hại nhằm góp phần giảm thiểu nguồn gây hại.

5.2 Biện pháp hóa học

Phun thuốc có hoạt chất Dimethoate 0,05% có tác dụng phòng trừ sâu đục thân hiệu quả. Xử lý đất với Carbofuran từ 2-4 lần/năm với liều lượng 10-20g đối với dây tiêu dưới 2 năm tuổi và 120g đối với dây tiêu trêm 2 năm tuổi. Phun xen kẽ Cypermethrin (EC 16%) liều lượng 0,6 l/ha 2 tuần/lần trước khi thu hoạch 90 ngày.

5.3 Biện pháp sinh học

Nấm Beauvaria bassiana  là tác nhân kiểm soát sinh học tiềm năng và được khuyên dùng để xử lý trên cây hồ tiêu vào buổi sáng lúc còn ẩm ướt để làm tăng hiệu quả phòng trừ của nấm. Nấm Spathious piperis có khả năng kiểm soát mật số sâu đục thân lên đến 37%.

5.4 Chọn giống kháng

Theo tài liệu nước ngoài, giống Natar-I  được xem là giống hồ tiêu chống chịu tốt với sâu bệnh hại và có khả năng phục hồi nhanh khi bị tấn công do đó nên trồng giống này ở những vùng dễ bị dịch hại. Tránh để tiêu ra hoa quanh năm cũng là một biện pháp quan trọng để hạn chế sâu hại vì hoa là nguồn thức ăn làm tăng mật số sâu hại.

Rệp sáp hại rễ

1. Tổng quan

Tên khoa học:           Planococcus spp., Pseudococcus spp., Ferrisia virgata

Phân bố:                   Ấn Độ, In-đô-nê-xi-a, Việt Nam

Vị trí gây hại:           Rễ

Rệp sáp hại rễ đang ngày càng gây hại nghiêm trọng tại các vùng trồng hồ tiêu cao nguyên ở Kerala và Karnataka (Ấn Độ). Chúng cũng gây hại trên cỏ dại và cà phê trồng xen với hồ tiêu.

2. Vòng đời

Rệp sáp có hình bầu dục, toàn thân mềm được bao phủ bởi lớp sợi sáp màu trắng và vòng đời sinh trưởng của chúng trong khoảng 25 ngày.

3. Đặc điểm gây hại

Rệp sáp tấn công trên rễ tiêu gây hiện tượng vàng lá. Nếu không có biện pháp phòng trừ kịp thời sẽ khiến dây tiêu kiệt sức dần và chết. Có thể quan sát thấy rệp sáp ở gốc tiêu phần dưới lớp đất mặt và trên rễ. Phần rễ tiêu bị rệp sáp tấn công dễ bị gây hại bởi nấm Phytophthora capsici và các loài tuyến trùng kí sinh (Radopholus similis và Meloidogyne incognita) khiến cây nhanh mất sức và chết. Trong vườn ươm, rệp sáp tấn công chồi non và lá của hom tiêu.

              Rệp sáp hại rễ                     Rệp sáp phát triến trên rễ tiêu          Lá tiêu bị vàng do rệp sáp gây hại

4. Thời điểm gây hại

Rệp sáp gây hại quanh năm nhưng nghiêm trọng nhất vào thời kỳ gió mùa từ tháng 10 trở đi.

5. Insect pest

Tên khoa học:  Planococcus spp., Pseudococcus spp., Ferrisia virgate

Rệp sáp giả Pseudococcus spp.

Rệp sáp cùng với nấm phát triển

6. Biện pháp phòng trừ

6.1 Biện pháp canh tác

Vào mùa hè nên dọn sạch cỏ dại nhằm giảm mật số rệp sáp trong vườn. Ở Ma-lai-xi-a, người dân được khuyến cáo không trồng cây vông nem (Erythrina variegata L.,  E. orientalis ) trong vườn hồ tiêu.

6.2 Biện pháp hóa học

Trong giai đoạn cây con, có thể phun Dimethoate 0,05% để phòng trừ rệp sáp. Đối với hồ tiêu lớn, tưới đẫm gốc bằng Chlorpyriphos 0,075% khi cây mới bị tấn công để trừ rệp sáp, đồng thời cũng giúp phòng trừ sự tấn công của nấm Phytophthora và tuyến trùng. Ở Ma-lai-xi-a, người dân được khuyến cáo phun Deltamethrin 2 tuần một lần từ 5-6 lần trong suốt giai đoạn ra hoa của hồ tiêu để phòng trừ rệp sáp. Ngoài ra có thể phun thay thế dầu khoáng (72%) với nồng độ 16,5 ml/l nước tối đa 3 lần trong 1 vụ. Không được phun bữa bãi dung dịch Bordeaux vì sẽ khiến rệp sáp gây hại nặng hơn.

Bọ xít lưới

1. Tổng quan

Tên khoa học:           Diconocoris hewetti  D. distanti

Phân bố:                   In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a, Sri Lanka và Việt Nam

Vị trí gây hại:             Trái, cuống hoa và lá. 

Thành trùng và ấu trùng bọ xít lưới chích hút vào cuống hoa, trái làm cho cuống hoa, trái có màu nâu và rụng. Thiệt hại năng suất do bọ xít gây ra lên đến 30% ở Ma-lai-xi-a và 9-37% ở đảo Bangka (In-đô-nê-xi-a).

Bọ xít lưới - Diconocoris hewetti D. distanti

2. Vòng đời

Bọ xít lưới màu đen, cánh có hình lưới, kích thước cơ thể khoảng 4,5 x 3,0mm. Đốt ngực phát triển rộng ra 2 bên tạo thành 2 khối u. Bọ xít lưới đẻ trứng vào cuống hoa, trái. Ấu trùng bọ xít lưới trải qua 5 lần lột xác để phát triển và cơ thể có nhiều gai nhọn. Giai đoạn trứng và ấu trùng bọ xít lưới kéo dài trung bình từ 10-19 ngày, vòng đời của bọ xít trưởng thành là 27 ngày.

3. Đặc điểm gây hại

Bọ xít lưới tấn công vào cuống hoa và trái gây rụng cuống. Khi bị bọ xít tấn công trái hồ tiêu sẽ phát triển không bình thường và lá thường bị hoại tử từng mảng.

4. Thời điểm gây hại

Mật số bọ xít cao nhất vào mùa mưa, gian đoạn từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau.

Cuống tiêu bị bọ xít hại

5. Biện pháp phòng trừ

5.1 Biện pháp canh tác

Tỉa cảnh thường xuyên là biện pháp phòng trừ bọ xít khá hiệu quả.

5.2 Biện pháp hóa học

Xử lý cây bị hại bằng cách phun Carbaryl 0,2% và Diazinon 0,2%. Ở Ma-lai-xi-a, phun Deltamethrin 2 tuần 1 lần khảng 5-6 lần trong suốt giai đoạn ra hoa giúp kiểm soát được bọ xít lưới. Ngưng phun trước khi thu hoạch tiêu 14 ngày. Có thể phun Lambda cyhalothrin 2 tuần/lần để  trừ bọ xít, thời gian cách ly 7 ngày trước khi thu hoạch.

5.3 Biện pháp sinh học

Sử dụng các chế phẩm sinh học từ cây Neem và nấm trắng Beauveria bassiana có tác dụng phòng trừ và giảm mật số bọ xít.

Bọ cánh cứng

1. Tổng quan

Tên khoa học:       Longitarsus nigripennis  hay Lanka ramkrishnae

Phân bố:              Nhiều tại Ấn Độ

Vị trí gây hại:        Quả, cuống và lá

Bọ cánh cứng có tên tiếng Anh là “pollu beetle”, tên khoa học là Longitarsus nigripennis. Đây được xem như loài sâu hại nghiêm trọng nhất trên vùng canh tác hồ tiêu đen ở Ấn Độ, khu vực đồng bằng và nơi có độ cao dưới 300m so với mực nước biển. Đây cũng là sâu hại chính ở các khu vực đồng bằng và trũng ở Kerala. Tuy nhiên, gần đây người ta còn ghi nhận sự gây hại của chúng trên hồ tiêu trồng ở các vùng đất cao Kerela (Wynad và Idukky) và Karnataka (Coorg) Ấn Độ. Từ “pollu” miêu tả triệu chứng quả tiêu bị hại sẽ bị rỗng bên trong ở Malayalam. Chúng làm tổn thất năng suất khoảng 13%.

Thành trùng bọ cánh cứng hại hồ tiêu

2. Vòng đời

Sâu trưởng thành là 1 loài bọ cánh cứng nhỏ màu đen, kích thước 2,5 x 1,5mm. Đầu và ngực màu nâu vàng, 2 cánh trước màu đen. Trứng nở sau 5-8 ngày, sâu non đục vào trong quả mềm và ăn phần quả bên trong. Sâu non đẫy sức có màu trắng sữa dài khoảng 5mm. Sau khoảng 20-30 ngày, ấu trùng rơi xuống đất và hóa nhộng trong đất.

3. Đặc điểm gây hại

Bọ cánh cứng trưởng thành gây hại trên lá, cuống và lớp vỏ quả. Con cái đẻ trứng vào cuống và quả. Ấu trùng bọ cánh cứng gây ăn phần mô bên trong cuống và những cuống bị hại đó sẽ chuyển sang màu xám và đen. Những quả bị sâu ăn có màu đen và vỡ vụn khi bị ép vào. Trong 1 quả bị bọ cánh cứng hại thường có từ 2-4 sâu non và chỉ 1 trong số đó gây hại chính. Cuống quả tiêu bị hại nặng có thể làm 30-40%  số quả hư và rỗng. Đôi khi cuống trái bị tấn công sẽ bị khô phần vỏ ngoài. Phần dưới lá non và lỗ đục trên là gây thiệt hại đáng kể cho hồ tiêu. Sâu trưởng sinh trưởng, phát triển gian đoạn tháng 12 đến tháng 5 bên dưới lá tiêu. Chúng cắn phá tạo thanh các lỗ nhỏ trên lá. Đây cũng là dấu hiệu nhận biết sự gây hại của bọ cánh cứng.

Triệu chứng gây hại trên lá của bọ cánh cứng

Triệu chứng gây hại trên quả của bọ cánh cứng

4. Thời điểm gây hại

Bọ cánh cứng gây hại bắt đầu từ tháng 4-5 thiệt hại nặng nhất vào giai đoạn tháng 9, 10 khi mật số chúng đạt cao nhất. Mật số sâu tăng vào mùa mưa vì các lá non phát triển sẽ là nguồn thức ăn phong phú. Nhiệt độ ảnh hưởng tiêu cực đến số lượng bọ cánh cứng.

5. Biện pháp phòng trừ

5.1 Biện pháp canh tác

Trong điều kiện che bóng, thiệt hại do bọ cánh cứng gây ra sẽ rất lớn, do đó tỉa cành thường xuyên từ tháng 5 đến tháng 6 là biện pháp quan trọng để hạn chế mật số bọ cánh cứng.

5.2  Biện pháp hóa học   

Phun Endosulfan 0,05% hoặc Quinalphos 0,05% vào tháng 6-7 và 9-10 hoặc phun liên tục 2 thuốc trên kèm với 3-4 lần (cách nhau 21 ngày) xử lý phun các thuốc có hoạt chất từ cây neem như Neemgold 0,06%. Cần phun kỹ mặt dưới lá khi phát hiện thấy bọ cánh cứng.

5.3 Giống kháng

Theo tài liệu của Ấn Độ, không có giống hồ tiêu kháng đối với loài sâu hại này, kể cả giống Kelluvally và Karimunda được xem là ít mẫn cảm với sâu hại ở vùng Bắc và Nam Kerala.

Rệp sáp dính

1. Tổng quan

Tên khoa học:           Lepidosaphes piperis, còn có loài Aspidiotus destructor và Pinnaspis strachini

Phân bố:                    Ấn Độ, In-đô-nê-xi-a

Vị trí gây hại:             Lá, nhánh, quả, thân.

Trong số các loài rệp sáp ghi nhận được trên cây tiêu đen thì rệp sáp dính (Lepidosaphes piperis) và rệp dính hại dừa (Aspidiotus destructor) gây hại nghiêm trong nhất trên tiêu ở vùng cao và trong vườn ươm.

2. Vòng đời

Con cái rệp sáp dính hình dạng thuông dài, khoảng 1mm có màu nâu sẫm và rệp dính hại dừa có hình dạng tròn, đường kính khoảng 1mm và có màu nâu vàng. Chúng thường nằm cố định trên mặt lá, cành hoặc quả và ít di chuyển.

3. Đặc điểm gây hại

Rệp sáp dính ít di chuyển và thương gây hại ở những vị trí cố định trên tiêu như thân, lá và quả. Chúng ta thường bắt gặp chúng dưới mặt lá và trên thân tiêu. Chúng chích hút cây làm vàng và héo các bộ phận gây hại. Khi bị nặng dây tiêu có thể bị khô và chết. Rệp sáp dính còn gây hại trên hồ tiêu non trong vườn ươm, nếu không phát hiện và phòng trừ ngay từ đầu sẽ gây thiệt hại rất nặng.

Rệp sáp dính

Hồ tiêu bị rệp sáp dính hại

4. Thời điểm gây hại

Rệp sáp dính gây hại tiêu hoạt động mạnh sau giai đoạn hậu gió mùa và vào mùa hè

5. Các loài rệp sáp khác hại hồ tiêu

Tên khoa học: Planococcus spp.,  Pseudococcus spp.,  Ferrisia virgata

6. Biện pháp phòng trừ

6.1 Biện pháp canh tác

Loại bỏ những nhánh tiêu bị rệp hại trước khi áp dụng các biện pháp hóa học. Rệp sáp ít di chuyển và thường lây lan nhờ kiến, do đó cần tiêu diệt kiến để tránh phát tán rệp trong vườn.

6.2 Biện pháp hóa học

Sau khi loại bỏ các nhánh tiêu bị hại, phun dimethoate 0,1%,  2 lần cách nhau từ 21-30 ngày giai đoạn tháng 1 đến tháng 2 sau khi thu hoạch. Cần sớm phát hiện rệp sáp dính để tiêu diệt ngay từ giai đoạn đầu sẽ mang lại hiệu quả cao.

6.3 Biện pháp sinh học

Rệp sáp dính hại dừa Aspidiotus destructor  có nhiều thiên địch tự nhiên thường thấy như ong ký sinh Aphytis sp. (Aphelinidae), các loài bọ rùa ăn thịt như Pseudoscymnus sp. Chilocorus nigrita và Chilocorus circumdatus (Coccinellide). Giai đoạn vườn ươm có thể phun các sản phẩm tự nhiên như dầu cá 3% hoặc dầu neem 0,3% có tác dụng phòng trừ rệp sáp dính rất tốt.

Sâu đục chồi

1. Tổng quan

Tên khoa học:         Cydia hemidoxa

Phân bố:                 Ấn Độ

Vị trí gây hại:          Đọt non

Sâu đục chồi (Cydia hemidoxa) là dịch hại nghiêm trọng trong các vườn hồ tiêu non ở tất các các vùng trồng hồ tiêu. Đến nay chỉ có Ấn Độ báo cáo về dịch hại này.

Sâu đục chồi tiêu Cydia hemidoxa

2. Vòng đời

Sâu trưởng thành là 1 loài ngài nhỏ, sải cánh dài 10-15mm, cánh trước có màu vàng, cánh sau xám. Ấu trùng đẫy sức màu xám lục, dài 12-15mm. Thành trùng cái đẻ trứng vào chồi non của hồ tiêu, ấu trùng nở ra ăn phần ngoài của chồi đó và các chồi xung quanh. Ngài trưởng thành hoàn toàn có màu xám lục và kích thước có thể lên tới 12-15mm. Để hoàn thành giai đoạn phát triển của mình, sâu non có thể tấn công và gây hại chỉ 1 đốt chồi. Giai đoạn ấu trùng  khoảng 14 ngày và nhộng kéo dài khoảng 10 ngày.

3. Đặc điểm gây hại

Ấu trùng sâu đục chồi đục vào phần đọt non của hồ tiêu làm đen và thối chồi khiến cho cây sinh trưởng phát triển kém. Khi chồi chính bị chết, chúng tấn công qua các chồi phụ. Sự sinh trưởng phát triển của dây tiêu 1 năm tuổi có thể bị giảm đến 57% khi bị sâu đục chồi gây hại liên tục.

Chồi tiêu bị sâu hại

4. Thời điểm gây hại

Sâu đục chồi gây hại nặng từ tháng 7 – tháng 10 khi hồ tiêu bắt đầu ra nhiều chồi non.

5. Biện pháp phòng trừ

5.1 Biện pháp hóa học

Có thể phòng trừ sâu đục chồi bằng Endosulfan 0,05% hoặc Quinalphos 0,05%, phun 2 lần/năm trong tháng 6 và tháng 9.

5.2 Biện pháp sinh học

Trong số các loài thiên địch được biết đến thì tuyến trùng ký sinh Hexamermis sp. (Mermithidae) và ong kén trắng Apanteles cypris (Braconidae) là 2 loài thường gặp nhất trong các vườn hồ tiêu giai vào thời điểm gió mùa (tháng 6 – tháng 9) và hậu gió mùa (tháng 9 – tháng 11)

Bọ trĩ hại lá

1. Tổng quan

Tên khoa học:           Liothrips karnyi

Phân bố:                  Ấn Độ, In-đô-nê-xi-a

Vị trí gây hại:            Lá

Bọ trĩ Liothrips karnyi gây hại nặng trên cây hồ tiêu non đặc biệt ở các vườn hồ tiêu ở vùng cao cũng như các vườn ươm vùng đồng bằng. Nhìn chung thì bọ trĩ gây hại nặng trên hồ tiêu ở giai đoạn cây con.

Bọ trĩ Liothrips karnyi

2. Vòng đời

Thành trùng bọ trĩ màu đen, dài khoảng 2,5-3,0mm. Ấu trùng và nhộng màu trắng sữa. Bọ trĩ đẻ trừng vào các nốt u và trứng nở sau 6-8 ngày. Vòng đời của bọ trĩ kéo dài từ 18-27 ngày.

3. Đặc điểm gây hại

Bọ trĩ chích hút vào mép lá làm cho lá mép lá cong và cuốn xuống phía dưới, đồng thời tạo nên các u sưng trên mép lá. Lá tiêu bị bọ trị gây hại nặng nhăn nheo và biến dạng ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển của cả dây tiêu.

4. Thời điểm gây hại

Bọ trĩ gây hại nặng vào giai đoạn từ tháng 6 – tháng 9 tại Ấn Độ và Indonesia.

Một số hình ảnh hồ tiêu bị bọ trĩ Liothrips karnyi gây hại tại In-đô-nê-xi-a

Bọ trĩ Liothrips karnyi                                             Bọ trĩ Liothrips karnyi

5. Biện pháp phòng trừ

5.1 Biện pháp hóa học

Phun Dimethoate 0,05% khi hồ tiêu non mới ra mầm và trong giai đoạn ươm cây để phòng trừ bọ trĩ.

5.2 Biện pháp sinh học

Một số côn trùng bắt mồi được xem là thiên địch của bọ trĩ Liothrips karnyi là bọ xít bắt mồi Montandoniola moraguesi (Anthocordiae) và bọ trĩ Andothrips flavipes (Phlaeothripidae). Chúng rất phàm ăn và tấn công bọ trĩ Liothrips karnyi ở tất cả các giai đoạn phát triển.

5.3 Giống kháng

Tại Ấn Độ, giống Kalluvally được xem là ít mẫn cảm với bọ trĩ.

Đơn vị thành viên
Liên kết đối tác

Viện Khoa Học Kỹ Thuật Nông Nghiệp Miền Nam
Địa chỉ: 121 Nguyễn Bỉnh Khiêm, P. Tân Định, TP.HCM
Điện thoại: 028. 38234076 –  38228371
Website : http://iasvn.org - Email: iasvn@vnn.vn