Tuần tin khoa học 1016 (2-8/11/2026)

Ngày cập nhật: 31 tháng 10 2026
Chia sẻ

Mạng lưới phản ứng sinh học là yếu tố tổ chức quan trọng của hệ phiên mãtrong quần thể cây mô hình Arabidopsis thaliana hoang dại (1)

Trong thiên nhiên, thực vật phải đối diện với các yếu tố phức tạp của nhiều stress, nhưng hầu hết những hiểu biết của chúng ta về sự điều tiết của gen đích trong cây đều từ trải nghiệm  của stress đơn mà thôi trên cá thể đồng nhất về di truyền. Tác giả đã phân tích phổ hệ thống phiên mã của cây Arabidopsis thaliana hoang dại thông qua 60 điểm khác nhau trong tự nhiên. Cho dù hầu hết sự biến thể của transcriptome vẫn chưa được giải thích bởi đo lường cụ thể về sự xâm nhiễm của vi sinh, thời tiết cực đoan, và tính trạng cây quan sát bằng mắt, tuy nhiên những tín hiệu gắn liền với xâm nhiễm bệnh luôn giải thích được mức độ biến thiên nhiều hơn biến số của yếu tố phi sinh học. So sánh hệ transcriptome giữa hoang dại và phòng thí nghiệm cho thấy rằng các hệ thống phản ứng với stress sinh học được bảo tồn rất tốt trong khi hệ thống phản ứng với stress phi sinh học về bản chất đã được tái tổ chức rất đáng kể trong thiên nhiên. Kết quả nghiên cứu này gợi ra rằng những thí nghiệm trong phòng thí nghiệm, cho dù kết quả rất thuyết phục về xác định được nguyên nhân, nhưng mới chỉ khám phá được một phần rất nhỏ của tình trạng phiên mã khi thực vật thích nghi trong tự nhiên (1).

Các thí nghiệm sâu rộng trong phòng thí nghiệm đã mở ra các lộ trình phân tử mang tính chất bảo tồn (conserved molecular pathway), đóng vai trò kiểm soát sự tăng trưởng và các phản ứng với stress; nhưng làm thế nào chương trình ấy khởi động trong tự nhiên còn là câu hỏi lớn. Tác giả đã và đang xem xét tổ chức của hệ transcriptome trong quần thể cây hoang dại Arabidopsis thaliana thông qua lấy mẫu từ 60 điểm trong tự nhiên ở châu Âu và Bắc Mỹ trong suốt 2 mùa vụ. Transcriptomes biến thiên rất mạnh giữa các cá thể sinh học và chịu sự chi phối không đáng kể  bởi địa lý hoặc mùa vụ khác nhau. Không có nhóm thực vật nào  nổi bật nhờ dấu hiệu stress sinh học hoặc stress phi sinh học được biết từ kết quả phòng thí nghiệm. Trong khi đó, chỉ có một phần rất nhỏ biến động của transcriptome được giải thích bởi triệu chứng nhiễm bệnh hoặc biến thiên bởi kiểu hình và bởi ngoại cảnh, các tín hiệu liên quan đến xâm nhiễm bệnh chiếm tỷ lệ lớn nhất trong nội dung giải thích. Các hệ thống phản ứng với stress sinh học được xác định trong điều kiện phòng thí nghiệm có kiểm soát đều đã được bảo tồn rất tốt trong hệ transcriptomes hoang dã, trong khi, các hệ thống khác bao gồm hệ thống phản ứng có tính chất phi sinh học được tái tổ chức rất tốt trong loài thực vật hoang dại. Kết quả cho thấy rằng mặc dù một số mô-đun phiên mã có thể dễ dàng được xác định lại khi chuyển từ môi trường tự nhiên sang các điều kiện được kiểm soát, nhưng có nhiều mối quan hệ điều tiết biểu thị sự khác biệt giữa hai bối cảnh này. Điều đó cho thấy sự phức tạp của sinh thái đã định hình nên cấu trúc hệ phiên mã ở các quần thể tự nhiên diễn ra như thế nào (1).

Xem https://www.pnas.org/doi/10.1073/pnas.2611539123

Các haplotypes ưu việt phục vụ việc chuyển đổi phương pháp chọn tạo giống cây trồng (2)

Hình: Sub1 trong hệ gen cây lúa chống chịu ngập (Oryza sativa L.) (Fukao et al. 2009).

Một khuôn khổ về “haplotype ưu việt” đã được tiêu chuẩn hóa, đã được kiểm chứng trên các loài mễ cốc, cây lấy dầu và cây họ đậu. Điều này giúp giải quyết cấu trúc di truyền bị bỏ sót bởi phương pháp dựa trên chỉ thị SNP. Chúng còn dẫn dắt phương pháp cải tiến giống cây trồng với mục tiêu năng suất cao và  thích nghi với biến đổi khí hậu. Biến đổi khí hậu và sự bùng nổ dân số toàn cầu tạo nên áp lực rất to lớn trên nguồn tài nguyên di truyền thiên nhiên vốn rất hạn chế. Đối diện với nhu cầu tương lai người ta cần phải đòi hỏi tiến bộ di truyền đáp ứng được điều kiện biến đổi của ngoại cảnh cực kỳ nhanh. Những tiến bộ của ngành genomics (hệ genome học), được hỗ trợ bởi kỹ thuật giải trình tự lớn nguồn tài nguyên di truyền cây trồng rất đa dạng, đã và đang cho phép lập bản đồ gen đích chính xác và phát triển những giống cây trồng chống chịu được khí hậu cực đoan. Tuy nhiên, tính hữu dụng của những gen như vậy và những haplotypes của chúng thường rất hạn chế, vì chúng quá chuyên biệt cho từng sinh thái khác nhau và quần thể khác nhau, làm hạn chế sự chuyển gen đích vào các chương trình cải tiến giống hết sức đa dạng. Khái niệm mới “superior haplotypes” (haplotypes ưu việt) có thể giúp chúng ta giải pháp khắc phục hạn chế ấy nhờ xác định tính kết hợp “allelic” liên quan đến tính trạng mong muốn với hiệu quả ổn định, nhất quán và có ý nghĩa, thông qua những tập đoàn giống cây trồng đa dạng, cũng như môi trường đa dạng. Ví dụ, trong cây lúa, GS3-H1 haplotype gắn liền với tính trạng kích thước hạt cải tiến và tiềm năng năng suất cao, trong khi, gen Sub1A-1 gắn với tính chống chịu ngập ưu việt so với gen Sub1A-2. Tương tự, cây cải dầu, Hap1 của gen qOCA3 và qOCC6 gắn với tính trạng hàm lượng dầu cao. Dựa trên những ví dụ đó, tổng quan này phân loại một cách hệ thống các kiểu “haplotype ưu việt” của nhiều loài cây trồng chính, nêu bật những khoảng trống nghiên cứu then chốt, đồng thời vạch ra lộ trình ứng dụng chúng trong công tác chọn tạo giống dựa trên hệ gen nhằm nâng cao năng suất, khả năng thích nghi và sức chống chịu của cây trồng (2).

Xem https://link.springer.com/article/10.1007/s00122-026-05337-z

ZmHY5L tác động hiệp đồng đến phẩm chất phôi nhũ hạt bắp và hình thái hạt thông qua sự điều tiết phiên mã qua trung gian “G-box” của gen waxy (3)

Nghiên cứu đã xác định ZmHY5L tích cực điều tiết phiên mã gen đích waxy thông qua sự gắn kết hết sức đặc biệt với G-box elements tại vùng promoter của gen, ZmHY5L đồng thời có thể ảnh hưởng đến chất lượng tinh bột trong nội nhũ và hình thái của hạt.

Gen waxy trong cây bắp mã hóa protein GBSSI (granule-bound starch synthase), proten này điều khiển sự tổng hợp amylose và là một trong những gen then chốt ảnh hưởng đến phẩm chất hạt bắp củng như năng suất hạt, tuy nhiên, cơ chế điều tiết của nó chưa được biết rõ. Lấy hai giống bắp nếp bản địa của Vân Nam làm vật liệu nghiên cứu, kết quả phương pháp “DNA pull-down” cộng với phương pháp sắc ký khối phổ đã sàng lọc được yếu tố điều tiết có tính chất “upstream” của gen waxy, tác giả đã phân lập ZmHY5L, một họ protein yếu tố phiên mã có tên là bZIP (basic leucine zipper). Nó này là một trong những đồng dạng với HY5 trong cây mô hình Arabidopsis. Nhiều nghiên cứu trước đó cho thấy HY5 là một protein TF chủ chốt trong lộ trình truyền tín hiệu ánh sáng. Nghiên cứu định vị có tính chất “subcellular” cho thấy protein ZmHY5L ở trong nhân; phương pháp EMSA vàd yeast one-hybrid assays xác định có tương tác trực tiếp giữa ZmHY5L và vùng điều tiết tích cực của gen waxy. Đột biến chủ đích gen bằng chỉnh sửa hệ gen đối với ZmHY5L nhằm so sánh kiểu hình, người ta thấy gen đột biến ZmHY5L làm giảm protein GBSSI trong hạt bắp, trong khi, tỷ lệ amylopectin, thể tích hạt, khối lượng 100 hạt của cây đột biến tăng đáng kể, tính trạng nhiệt độ hóa hồ (gelatinization) cũng thay đổi đáng chú ý, không có thay đổi gì về hàm lượng tinh bột tổng số trong hạt bắp. Kết quả xác định rằng ZmHY5L tích cực điều tiết sự phiên mã của gen waxy  thông qua gắn kết đặc biệt với  G-box elements trong vùng promoter của gen đích, có thể tác động đồng thời đến  phẩm chất tinh bột và hình thái học của hạt trong nội nhũ (3).

Xem https://link.springer.com/article/10.1007/s00122-026-05425-0

Minh chứng ở mức độ phân tử hai loại hình “begomoviruses” và một DNA-B mới xâm nhiễm gây bệnh  “Duranta erecta variegata” ở Pakistan (4)

Các virus thuộc chi Begomovirus biểu thị tốc độ tiến hóa nhanh, đang là mối đe dọa nghiêm trọng đối với các loài cây trồng thương mại trên toàn thế giới. Các loài cây lâu năm thường mang những virus này trong thời gian dài, tạo điều kiện cho chúng lây lan sang các loại cây trồng khác. Vào năm 2021, tại các vườn ươm cây cảnh ở Faisalabad, Pakistan, người ta phát hiện cây cảnh lâu năm Duranta erecta variegata - cây chuỗi ngọc lá đốm, có các triệu chứng điển hình của bệnh do Begomovirus gây ra. Triệu chứng quan sát được là xoăn lá, biến dạng lá và lá bị ngắn lại. Các phân tử Begomovirus cùng các phân tử vệ tinh (satellite) đi kèm, biểu hiện kích thước lần lượt là 2,8 kb đến 1,4 kb; chúng đã được phóng to lên bằng phương pháp khuếch đại vòng tròn (rolling circle amplification - RCA). Kết quả giải trình tự Sanger từ các phân tử được nhân bản cho thấy sự hiện diện của virus xoăn lá hoa hồng (rose leaf curl virus - RoLCuV, Begomovirus rosae), cùng với một phân tử DNA-B tái tổ hợp mới; có tên là "DNA-B của virus xoăn lá hoa hồng". Phân tử vệ tinh alpha gây vàng gân lá cây thục quỳ (hollyhock yellow vein alphasatellite - HYVA, Gosmusatellite alceae). Một mẫu cây khác cho thấy sự hiện diện của virus gây xoăn lá đu đủ (papaya leaf crumple virus - PaLCrV, Begomovirus papayae), một loài virus có tác động đáng kể đến nông nghiệp. Đây là báo cáo đầu tiên về việc RoLCuV, một phân tử DNA-B mới, PaLCrV và HYVA cùng gây bệnh trên cây Duranta erecta variegata ở Pakistan (4).

Xem https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/42484823/

Duranta erecta là một loài cây bụi có hoa thuộc họ Verbrenaceae.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Ana Paula Leite Montalvão, Kevin D. Murray, Ilja Bezrukov, Natalie Betz, Lucas P. Henry, Paloma Duran, Patrick Boppert, Martina Kolb, TEAM PATHOCOM, Fabrice Roux, Joy Bergelson, Detlef Weigel, and Wei Yuan. 2026. Biotic response networks are an important organizer of the transcriptome in wild Arabidopsis thaliana populations. PNAS; October 19 2026; 123 (43) e2611539123; https://doi.org/10.1073/pnas.2611539123

  2. Nandigam Vinay Kumar, Ajay Bogati, Uma Maheshwar Singh, A. Prasanna Rajesh, T. Srinivas, Ajay Kohli, Sanjay Kalia, Arvind Kumar, Pallavi Sinha & Vikas Kumar Singh. 2026. Superior haplotypes for transforming crop breeding. Theoretical and Applied Genetics; October 23 2026; vol. 139; article 310.

  3. Juan Du, Yang Ye, Xiaoyan Chen, Fuqin Li, Guifang Yin & Xiaoyang Wu. 2026. ZmHY5L synergistically affects endosperm starch quality and grain morphology through G-box-mediated transcriptional regulation of the maize waxy gene. TAG October 24 2026; vol. 139; article 312

  4. Afzal Akram, Mahnoor Jamil, Imran Amin, Jodi A Scheffler, Brian E Scheffler, Muhammad Saeed, Shahid Mansoor. 2026. Virus Genes; July 22; 62(5):690-694.doi: 10.1007/s11262-026-02255-6.

Biên tập: BÙI CHÍ BỬU.

Số lần xem: 41

Đơn vị thành viên
Liên kết đối tác

Viện Khoa Học Kỹ Thuật Nông Nghiệp Miền Nam
Địa chỉ: 121 Nguyễn Bỉnh Khiêm, P. Tân Định, TP.HCM
Điện thoại: 028. 38234076 –  38228371
Website : http://iasvn.org - Email: iasvn@vnn.vn