Sắn (Manihot esculenta Crantz), thường được trồng để lấy tinh bột, là nguồn thực phẩm chính cho gần một tỷ dân số ở 105 quốc gia. Cây sắn đứng thứ 3 sau lúa và ngô về nguồn cung cấp hàm lượng carbohydrate cao, và là nguồn nguyên liệu thô phục vụ các ngành công nghiệp chế biến cơ bản (http://www.fao.org/ newsroom/en/news/2008/1000899/index.html).
Cây sắn (Manihot esculenta Crantz) là nguồn nguyên liệu quan trọng sử dụng trong sản xuất tinh bột, thức ăn gia súc, bột ngọt và Ethanol. Trên thế giới đã phát hiện gần 50 loại bệnh trên cây sắn gây ảnh hưởng lớn đến năng suất và chất lượng sản phẩm sắn; trong đó, bệnh khảm lá sắn (Cassava mosaic virus disease-CMD) là bệnh hại nguy hiểm. Nếu nhiễm bệnh vào giai đoạn đầu có thể làm giảm đến năng suất đến 90%, thậm chí không cho thu hoạch.
Cây sắn (Manihot esculenta Crantz) là loại cây trồng có củ quan trọng đối với Châu Phi, Châu Á và Nam Mỹ, đứng thứ 3 sau lúa và ngô về nguồn cung cấp hàm lượng carbohydrate cao, và là nguồn nguyên liệu thô phục vụ các ngành công nghiệp chế biến cơ bản. Theo số liệu thống kê của Bộ Nông nghiệp và PTNT giữa tháng 6/2019 tổng diện tích sắn của cả nước là 360 nghìn ha thấp hơn khoảng 17,6 nghìn ha so với cùng kì năm 2018.
Nghiên cứu đo đạc và đánh giá phát thải khí nhà kính (KNK) tại các mô hình canh tác lúa bền vững theo các kỹ thuật 1 phải 5 giảm (1P5G) và 3 giảm 3 tăng (3G3T) được thực hiện trên đất canh tác 3 vụ lúa tại 3 tỉnh An Giang, Cần Thơ và Kiên Giang thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long. Kết quả nghiên cứu cho thấy các mô hình canh tác 1P5G và 3G3T đã cắt giảm hiệu quả phát thải KNK so với canh tác theo truyền thống của người dân. Mô hình 1P5G có hiệu quả cắt giảm phát thải KNK cao hơn so với mô hình 3G3T.
Bệnh cháy lá Cercospora (CLB) gây thiệt hại trên diện rộng trong sản xuất đậu tương trên toàn thế giới, bao gồm cả các nước sản xuất đậu tương lớn như Argentina. Cercospora kikuchii, C. cf. sigesbeckiae, C. cf. flagellaris và C. cf. nicotianae được xác định là mầm bệnh của CLB. Khả năng kháng CLB của đậu tương vẫn chưa được biết rõ. Ngoài ra, việc kiểm soát hóa chất đối với CLB đang mất hiệu quả vì khả năng kháng thuốc diệt nấm của các mầm bệnh như C. kikuchii. Chúng tôi cấp thiết chọn tạo giống kháng CLB. Đáng tiếc, các phương pháp hiệu quả để sàng lọc kiểu gen đậu tương kháng thuốc vẫn chưa được thiết lập.
Nghiên cứu nhằm phân lập, tuyển chọn và định danh vi khuẩn Bacillus từ đất trồng Đinh lăng có khả năng đối kháng vi khuẩn Erwinia carotovora gây bệnh thối nhũn. Từ 30 mẫu đất vùng rễ cây Đinh lăng trồng tại huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định đã phân lập được 189 chủng vi khuẩn có khả năng tồn tại ở nhiệt độ 100oC trong 10 phút. Trong đó đã tuyển chọn được 9 chủng có khả năng đối kháng vi khuẩn Erwinia carotovora M4 gây thối rễ, củ cây Đinh lăng với đường kính vòng vô khuẩn lớn hơn 16 mm.
Diêm mạch (Chenopodium quinoa) là một trong những đối tượng cây trồng có giá trị kinh tế cao và được trồng trọt phổ biến trên thế giới. Tuy nhiên, những hiểu biết về cơ chế thích nghi của cây diêm mạch vẫn còn hạn chế do thông tin di truyền của loài mới chỉ được ghi nhận gần đây. Trong nghiên cứu này, họ protein vận chuyển đường sucrose, SWEET (Sugar Will Eventually be Exported Transporter), đã được tìm hiểu ở cây diêm mạch thông qua các công cụ phân tích tin sinh học dữ liệu lớn.
Nghiên cứu nhằm ước lượng hàm lượng lân (P) hữu dụng và đạm (N) tổng số trong một số nhóm đất chính trồng lúa ở vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) dựa vào hàm lượng các bon hữu cơ (OC) có trong đất. Nghiên cứu được thực hiện trên ba nhóm đất, bao gồm phèn, phù sa và nhiễm mặn đang canh tác lúa ở vùng ĐBSCL. Thời gian thu mẫu và phân tích được thực hiện từ tháng 12/2016 đến tháng 3/2017. Mỗi nhóm đất thu 40 mẫu ở độ sâu 0 - 20 cm. Kết quả cho thấy, dựa vào OC có trong đất có thể xác định được hàm lượng P hữu dụng và N tổng số trong đất.
Căng thẳng do ngập lụt làm giảm năng suất đậu tương đáng kể. Giai đoạn đầu của đậu tương ở Hàn Quốc trùng với mùa mưa, có khả năng gây ra ngập úng. Các thí nghiệm trong nhà kính được thực hiện để lập bản đồ locus các tính trạng số lượng (QTL) về khả năng chịu ngập úng ở đậu tương để điều tra và xác định các gen ứng viên gần các điểm nóng QTL. Căng thẳng ngập úng được áp dụng ở giai đoạn V1 – V2 trên quần thể dòng lai tái tổ hợp (Paldalkong × NTS1116), hàm lượng diệp lục lá (CC) và khối lượng thân khô (DW) được đo ở đối chứng và ngập.
Cải thiện khả năng chịu hạn của đậu tương có thể là một cách hiệu quả để giảm thiểu việc giảm năng suất ở các vùng thường xuyên bị hạn hán. Việc xác định quỹ tích các tính trạng số lượng (QTLs) liên quan đến khả năng chịu hạn rất hữu ích để tạo điều kiện phát triển các giống chịu được điều kiện bất thuận. Nghiên cứu này nhằm xác định các QTL về khả năng chịu hạn ở đậu tương bằng cách sử dụng quần thể dòng lai tái tổ hợp (RIL) được phát triển từ phép lai giữa giống cây PI416937 chịu hạn và cây trồng Cheonsang mẫn cảm.
Tách quả là một quá trình sinh sản quan trọng ở nhiều loài hoang dã. Tuy nhiên, vỏ quả bị vỡ ở giai đoạn chín có thể làm giảm năng suất nghiêm trọng. Mục tiêu của nghiên cứu này là phát hiện ra các locus tính trạng số lượng (QTL) đối với hiện tượng tách quả bằng cách sử dụng hai quần thể dòng lai tái tổ hợp (RIL) có nguồn gốc từ một giống cây ưu tú có khả năng chịu tách quả, cụ thể là Daewonkong và để dự đoán QTL/gen ứng cử viên mới liên quan trong vỏ quả bị vỡ dựa trên các mẫu alen của chúng.
Căng thẳng do ngập úng là một vấn đề nghiêm trọng trong sản xuất đậu tương, làm giảm năng suất đáng kể. Mùa mưa bắt đầu trong thời kỳ sinh trưởng sớm của đậu tương ở Hàn Quốc và một số nơi khác trên thế giới có khả năng khiến cây đậu tương bị ngập úng. Mục tiêu của nghiên cứu này là lập bản đồ các locus tính trạng số lượng (QTL) cho khả năng chịu ngập bằng cách sử dụng quần thể dòng lai tái tổ hợp (RIL) có nguồn gốc từ sự lai tạo giữa các giống Danbaekkong (chịu ngập) và NTS1116 (mẫn cảm với ngập) trồng trong nhà nhựa trong hai năm.
Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ của Việt Nam (DHNTB) có khoảng 339.000 ha đất cát với đặc thù hàm lượng sét thấp, CEC thấp, độ chua cao, hợp chất hữu cơ thấp, khả năng giữ nước và giữ phân kém, nghèo kiệt dinh dưỡng nên năng suất cây trồng rất thấp. Các nghiên cứu của dự án ACIAR ở vùng này đã xác định, đất cát vùng DHNTB bị thiếu hụt một số loại dinh dưỡng điển hình như đa lượng, trung lượng (K, S) và vi lượng (B, Cu). Để bổ sung cho sự thiếu hụt này, thì cần bón bổ sung 90 kg K/ha, 30 kg S/ha, 0,25 kg B/ha và 2,5 kg Cu/ha.
Ngập úng làm giảm năng suất đậu tương nghiêm trọng trên toàn thế giới. Sự phát triển của các giống cây trồng chịu được căng thẳng có thể một biện pháp hữu hiệu để giảm bớt tác động tiêu cực của ngập úng. Thông tin phân tử về biểu hiện các kiểu gen chống chịu và nhạy cảm với ngập úng có giá trị để cải thiện khả năng chống chịu ngập úng của cây đậu tương.
Thuốc trừ sâu có nguồn gốc hóa học từ lâu đã được sử dụng phổ biến trong nông nghiệp vì hiệu quả tác động nhanh, giá thành rẻ và dễ sử dụng. Tuy nhiên, thuốc hóa học lại bộc lộ nhiều yếu điểm như khó phân hủy, để lại nhiều dư lượng trong đất và nông sản gây ảnh hưởng đến môi trường và ngày càng xuất hiện nhiều loài sâu hại kháng thuốc. Vì vậy mà việc nghiên cứu và tìm kiếm các loại thuốc sinh học có hiệu quả phòng trừ sâu hại, thân thiện với môi trường, an toàn cho con người và các loại sinh vật khác ngày càng được chú trọng và quan tâm nhiều hơn.
Ảnh hưởng của liều lượng phân đạm và mật độ đến năng suất sinh khối của giống ngô sinh khối lai đơn MN-2 vùng Đông Nam Bộ và Tây Nguyên được thực hiện tại Đồng Nai và Đắk Lắk năm 2019 và 2020. Các thí nghiệm được bố trí hai yếu tố kiểu lô phụ (Split – Plot Design) với lô chính là các mức đạm và lô phụ là các mật độ, 3 lần lặp lại. Kết quả nghiên cứu xác định được phân bón và mật độ thích hợp cho giống ngô sinh khối MN-2 như sau: vụ Hè Thu và Thu Đông (mùa mưa) sử dụng 2500 kg phân vi sinh, 160N-90P2O5-90 K2O (kg/ha) và mật độ 71.428 cây/ha (70 cm x 20 cm); vụ Đông Xuân (mùa khô) sử dụng 2500 kg phân hữu cơ, 200N-90P2O5-90 K2O (kg/ha) và mật độ 79.365 cây/ha (70 cm x 18 cm).
Qua 5 năm tuyển chọn và khảo nghiệm bộ giống sắn đã chọn được giống HL-S12 có nhiều ưu điểm vượt trội so với đối chứng có thể lưu hành, phát triển và mở rộng cho sản xuất. Giống sắn HL-S12 được chọn từ tổ hợp lai HL-S10 × KM140, đánh giá tại Trung tâm Hưng Lộc từ năm 2014 đến năm 2021. Giống có một số đặc tính nông học sau: Số củ/bụi 10,3 củ, khối lượng củ/bụi 5,3 kg, chỉ số thu hoạch là 62,9. Kết quả khảo nghiệm diện hẹp cho thấy giống sắn HL-S12 có khả năng chống chịu khá với bệnh chổi rồng, nhện đỏ, khảm lá; năng suất biến động từ 36,02 - 42,34 tấn/ha;
Mất sức sống của hạt là một trở ngại nghiêm trọng trong sản xuất và bảo quản hạt giống đậu tương. Hiểu được các yếu tố ảnh hưởng đến sức sống của hạt và xác định các kiểu gen đậu tương có sức sống cao hơn là rất quan trọng trong sản xuất đậu tương. Trong nghiên cứu này, hạt giống của 125 kiểu gen đậu tương của ba loài khác nhau (Glycine tomentella, Glycine soja và Glycine max) và 25 dòng lai tái tổ hợp (RIL) (Glycine soja x Glycine soja) đã được thử nghiệm sức nảy mầm ngay sau khi thu hoạch, sau đó là một, hai và ba năm bảo quản.
Trong nghiên cứu này, thông tin về nhóm protein giàu Methionine (Methionine-rich protein, MRP) đã được tìm hiểu một cách đầy đủ trên cây sắn (Manihot esculenta) bằng các công cụ tin sinh học. Kết quả đã xác định được tổng số 155 MRP, với tiêu chí kích thước ≥ 95 axít amin và hàm lượng Met ≥ 6%. Trong đó, 52 (trên tổng số 155) MRP chưa được chú giải chức năng ở sắn. Phân tích cho thấy các MRP chưa rõ chức năng có đặc tính lý hóa đa dạng.
Khả năng kết hợp chung (GCA) về năng suất sinh khối của 12 dòng ngô thuần từ các nguồn vật liệu khác nhau được thực hiện qua phương pháp lai đỉnh (Topcross). Ba cây thử được sử dụng trong thí nghiệm là các dòng thuần LN333, D67 và D133. Thí nghiệm 36 tổ hợp lai đỉnh và tổ hợp lai triển vọng được bố trí kiểu khối hoàn toàn ngẫu nhiên (RCBD) 3 lần lặp lại trong vụ Hè Thu và Thu Đông 2018 tại Hưng Lộc (Đồng Nai).
Nghiên cứu về đa dạng di truyền là một trong những bước đầu trong việc cải thiện giống cây trồng. Trong nghiên cứu này, chỉ thị phân tử ISSR được sử dụng để đánh giá đa dạng di truyền của 120 dòng/giống đậu nành đang được lưu giữ trong ngân hàng giống của Trường Đại học Cần Thơ. Kết quả khuếch đại từ 10 chỉ thị phân tử ISSR cho được tổng cộng 89 phân đoạn, trong đó có 79 phân đoạn đa hình, chỉ số PIC của các mồi ISSR dao động từ 0,06 đến 0,25 và hệ số tương đồng từ 0,55 - 0,91. Sự đa dạng di truyền tương đối cao và 120 dòng/giống đậu nành chia được thành 7 nhóm chính và một số phân nhóm.
Kết quả khảo nghiệm và sản xuất thử giống đậu tương cho vùng Đông Nam Bộ (ĐNB) và Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), đã xác định được giống đậu tương HLĐN 910 và giống đậu tương HLĐN 904 là 2 giống tốt, có khả năng phát triển trong sản xuất. Các giống có thời gian sinh trưởng (TGST) từ 78 - 83 ngày, có khả năng chống chịu tốt với bệnh gỉ sắt (điểm 1 - 3), chín tập trung, ít tách hạt ngoài đồng, hàm lượng protein 33,7%;
Hoa hồng (Rosa sp. - thuộc họ Rosaceae) đã được trồng từ xa xưa trên khắp thế giới với nhiều mục đích khác nhau. Hoa có giá trị biểu tượng cao và có tầm quan trọng về văn hóa trong các xã hội khác nhau xuyên suốt lịch sử loài người. Sự thuần dưỡng hoa hồng có lịch sử lâu dài và phức tạp. Nhiều loài hoa đã được lai tạo xuyên qua các vùng địa lý rộng lớn như châu Á, châu Âu và Trung Đông (Bendahmane et al., 2013). Ban đầu, hoa hồng dại được trồng phổ biến chỉ để làm hàng rào ngăn cản các loài động vật phá hoại.
Hồ tiêu (Piper nigrum L.) là một loại gia vị đặc sắc tại Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang với vị thơm cay nổi tiếng từ xưa, đặc biệt là sản phẩm chế biến từ hạt tiêu như: tiêu đỏ, tiêu trắng (tiêu sọ), muối tiêu,.... Các sản phẩm này là một trong những đặc sản cho nhiều du khách muốn sở hữu khi đến Phú Quốc không chỉ dành cho du khách trong nước mà còn cho nhiều khách Quốc tế. Do giá trị của sản phẩm chế biến này cao hơn nhiều so với sản phẩm hạt tiêu đen truyền thống nên đã mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn cho người trồng tiêu tại Phú Quốc.
Nghiên cứu sử dụng chế phẩm sinh học trong phòng trừ dịch hại trên cây hồ tiêu được thực hiện trong hai niên vụ 2018-2019 và 2019-2020 tại huyện Phú Giáo, Bình Dương. Áp dụng kiểu bố trí thử nghiệm trên ruộng nông dân với 6 lô thử nghiệm có bổ sung chế phẩm Bio-FA và 6 lô đối chứng có áp dụng biện pháp phòng trừ dịch hại phổ biến của nông hộ. Số liệu được phân tích và so sánh bằng trắc nghiệm t-test. Kết quả cho thấy: (i) Trong niên vụ 2018-2019, kết quả chưa ảnh hưởng đến hiệu quả phòng trừ dịch hại trên cây hồ tiêu nhưng đã có hiệu quả khá tốt trong niên vụ 2019-2020.
Độc tính nhôm (Al3+) là một độc tính phi sinh học điển hình làm hạn chế nghiêm trọng sản lượng cây trồng ở đất chua. Trong nghiên cứu này, một quần thể RIL (dòng lai tái tổ hợp, F12) có nguồn gốc từ tổ hợp lai Zhonghuang 24 (ZH 24) x Huaxia 3 (HX 3) (160 dòng) đã được thử nghiệm bằng cách trồng thủy canh. Độ dài rễ tương đối (RRE) và hàm lượng Al3+ đỉnh (AAC) được đánh giá cho mỗi dòng và mối tương quan âm đáng kể đã được phát hiện giữa hai chỉ số. Dựa trên bản đồ liên kết di truyền mật độ cao, dữ liệu kiểu hình được sử dụng để xác định các locus tính trạng số lượng (QTLs) liên quan đến các tính trạng này.
Nghiên cứu đánh giá các giống tiêu hiện đang trồng phổ biến từ năm 2017 đến năm 2020 nhằm xác định được 1-2 giống tiêu có khả năng sinh trưởng tốt, năng suất cao, phù hợp với điều kiện canh tác tại huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương. Kết quả đã chỉ ra rằng: (i) Các giống tiêu theo dõi có khả năng sinh trưởng phát triển khá tốt, tán lá xanh. Trong giai đoạn kiến thiết cơ bản (KTCB) và kinh doanh (KD), ba giống Vĩnh Linh, Ấn Độ và Lộc Ninh đều nhiễm bệnh chết nhanh, vàng lá chết chậm và thán thư nhưng với tỷ lệ cây bị hại thấp. Trong khi đó, giống Sẻ Phú Quốc nhiễm ba loại bệnh này với tỷ lệ cao và cao hơn so với ba giống còn lại.
Cây hồ tiêu (Piper Nigrum L.) đã được trồng từ lâu đời tại Phú Quốc. Hồ tiêu Phú Quốc là một loại gia vị đặc sản của thành phố Phú Quốc thuộc tỉnh Kiên Giang. Sản phẩm hồ tiêu có vị thơm nồng, đặc biệt là đậm vị hơn nhiều loại hồ tiêu đến từ những vùng miền khác. Phú Quốc là vùng du lịch nổi tiếng của tỉnh Kiên Giang nói riêng và Việt Nam nói chung. Với lợi thế đó, các đặc sản của Phú Quốc được tiêu thụ thông qua kênh du lịch, trong đó có sản phẩm đặc sản hồ tiêu Phú Quốc.
Chất kích thích sinh học thực vật là sản phẩm đặc biệt được sử dụng để tăng sản lượng cây trồng và đang nhanh chóng trở nên phổ biến trên thị trường hạt giống nông nghiệp và hóa chất. Không giống như các nguyên liệu đầu vào cho cây trồng truyền thống, chẳng hạn như phân bón hoặc thuốc trừ sâu, chất kích thích sinh học đặc biệt ở chỗ là sản phẩm duy nhất có thể có nhiều cách để ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và phát triển của cây trồng dựa trên cả thời điểm và nơi áp dụng. Tổng quan này trình bày tóm tắt về hiện trạng và mô tả về các chất kích thích sinh học thực vật với các tài liệu hiện có về việc sử dụng chúng trong sản xuất cây trồng theo hàng như ngô (Zea mays L.), đậu tương (Glycine max (L.) Merr.), lúa mì (Triticum aestivum) và các loài cây trồng chính khác.
Nghiên cứu nhằm tuyển chọn bộ chủng giống vi sinh vật có khả năng phân giải xenlulo, lân và protein để xử lý bùn thải ao nuôi cá tra làm phân bón hữu cơ. Từ 23 chủng vi sinh vật phân lập từ các mẫu bùn thải ao nuôi cá tra đã tuyển chọn được 3 chủng vi khuẩn, bao gồm chủng X7KN, Pi71.3 và PO3. Chủng X7KN có khả năng phân giải xenlulo, đường kính vòng phân giải 4,8 cm sau 20 giờ nuôi cấy, hoạt tính xenlulasa đạt 15,4 u/ml. Chủng Pi71.3 phân giải lân khó tan, đường kính vòng phân giải lân đạt 2,2 cm, lượng lân dễ tiêu tăng lên 4,5 lần so với đối chứng sau 5 ngày nuôi cấy.












