Chào mừng Quý độc giả đến với trang thông tin điện tử của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam

Tin nổi bật
Thành tích

Huân chương Ðộc lập

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Huân chương Lao động

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Giải thưởng Nhà nước

- Nghiên cứu dinh dưởng và thức ăn gia súc (2005)

- Nghiên cứu chọn tạo và phát triển giống lúa mới cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa (2005)

Giải thưởng VIFOTEC

- Giống ngô lai đơn V2002 (2003)

- Kỹ thuật ghép cà chua chống bệnh héo rũ vi khuẩn (2005)

- Giống Sắn KM 140 (2010)

Trung tâm
Liên kết website
lịch việt
Thư viện ảnh
Video
Trung Tâm NC Khoai tây, Rau và Hoa, trồng rau Hàn Quốc theo VietGap

Thống kê truy cập
 Đang trực tuyến :  19
 Số lượt truy cập :  27116808
Nghiên cứu về sản xuất và tiêu thụ lúa gạo của nông dân đồng bằng Sông Cửu Long

Kết quả nghiên cứu về hiện trạng sản xuất lúa bình quân hộ được điều tra có diện tích nhỏ nhất là 0,5 ha, lớn nhất là 6,5 ha và trung bình là 2,2 ha. Có 100% số hộ sản xuất lúa Đông Xuân (ĐX) và Hè Thu (HT), chỉ có 55% hộ sản xuất vụ Thu Đông (TĐ). Năng suất trung bình vụ ĐX đạt được 7,17 T/ha (hộ đạt thấp 5 T/ha, cao nhất 8 T/ha)

Nguyen Cong Thanh(1), Bui Dinh Duong(2), Tran Van Hien(2),Nguyen Huu Minh(2) and Manish Signh(3)

(1). Viện Khoa học Kỹ Thuật Nông nghiệp miền Nam

(2). Viện Lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long

(3). Foretell Business Solution, India.

 

Tóm Tắt

 

Kết quả nghiên cứu về hiện trạng sản xuất lúa bình quân hộ được điều tra có diện tích nhỏ nhất là 0,5 ha, lớn nhất là 6,5 ha và trung bình là 2,2 ha. Có 100% số hộ sản xuất lúa Đông Xuân (ĐX) và Hè Thu (HT), chỉ có 55% hộ sản xuất vụ Thu Đông (TĐ). Năng suất trung bình vụ ĐX đạt được 7,17 T/ha (hộ đạt thấp 5 T/ha, cao nhất 8 T/ha). Vụ HT năng suất trung bình là 5,17 T/ha và vụ TĐ là 4,69 T/ha. Tỷ lệ đóng góp về sản lượng thu hoạch cả năm của nông hộ vụ ĐX là 45,2% còn lại vụ HT và TĐ thứ tự là 33,7 và 21,10%. Việc phơi hay sấy lúa tùy theo mùa vụ, điều kiện thị trường và cơ sở vật chất của nông hộ. Điều kiện công nghệ sau thu hoạch của nông dân còn yếu kém. Về tiêu thụ lúa gạo, có 35% số hộ không dự trữ lúa để ăn, những hộ này thường mua gạo để ăn. Có 65% hộ có xay chà gạo cả năm. Trong đó, vụ ĐX 60%, HT 55% và TĐchỉ30%. Nông dân chủ yếu bán lúa cho thương lái (90%). Kết quả phân tích thống kê cho thấy giá bán lúa IR 50404 thấp hơn có ý nghĩa so với giá bán các giống lúa chất lượng cao. Từ đó, khuyến cáo nông dân hạn chế trồng giống lúa IR 50404 và nên trồng các giống chất lượng cao cho xuất khẩu. Nghiên cứu cũng cho thấy những vấn đề khó khăn mà nông dân phải đối phó trong sản xuất, qua đó tổng hợp những ý kiến về những cơ hội và nguyện vọng của nông dân để phản ảnh với các cấp quản lý và cơ quan liên quan trong việc cải thiện tình hình, phát triển công nghệ sau thu hoạch nhằm giảm thất thoát và nâng cao lợi nhuận cho nông dân song song với phát triển hệ thống chế biến và mở rộng thị trường xuất khẩu gạo.


Trích từ: Tạp chí Omonrice 19: 224-236 (2013)

Trở lại      In      Số lần xem: 3974

[ Tin tức liên quan ]___________________________________________________
Designed & Powered by WEBSO CO.,LTD