Chào mừng Quý độc giả đến với trang thông tin điện tử của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam

Tin nổi bật
Thành tích

Huân chương Ðộc lập

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Huân chương Lao động

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Giải thưởng Nhà nước

- Nghiên cứu dinh dưởng và thức ăn gia súc (2005)

- Nghiên cứu chọn tạo và phát triển giống lúa mới cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa (2005)

Giải thưởng VIFOTEC

- Giống ngô lai đơn V2002 (2003)

- Kỹ thuật ghép cà chua chống bệnh héo rũ vi khuẩn (2005)

- Giống Sắn KM 140 (2010)

Trung tâm
Liên kết website
lịch việt
Thư viện ảnh
Video
Trung Tâm NC Khoai tây, Rau và Hoa, trồng rau Hàn Quốc theo VietGap

Thống kê truy cập
 Đang trực tuyến :  11
 Số lượt truy cập :  29624079
Các xu hướng thúc đẩy sản xuất chè toàn cầu

Sản lượng chè toàn cầu lên tới hơn 17 tỷ đô la Mỹ mỗi năm, trong khi thương mại chè thế giới đạt giá trị khoảng 9,5 tỷ đô la Mỹ. Các nông hộ nhỏ chiếm 60% sản lượng thế giới. Chè cung cấp việc làm hiệu quả ở các vùng nông thôn, giúp các hộ gia đình đáp ứng nhu cầu an ninh lương thực và cải thiện tình trạng dinh dưỡng của họ.Tiêu thụ chè bình quân đầu người trên toàn cầu đã tăng 2,5% trong thập kỷ qua, với sự mở rộng đáng kể ở các nước sản xuất chè.

Theo Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO), các thương hiệu đổi mới và cao cấp là đặc trưng của thị trường chè, nơi đang thu hút ngày càng nhiều người mua trẻ tuổi.

 

Ảnh minh họa.

Sản lượng chè toàn cầu lên tới hơn 17 tỷ đô la Mỹ mỗi năm, trong khi thương mại chè thế giới đạt giá trị khoảng 9,5 tỷ đô la Mỹ.

 

Các nông hộ nhỏ chiếm 60% sản lượng thế giới. Chè cung cấp việc làm hiệu quả ở các vùng nông thôn, giúp các hộ gia đình đáp ứng nhu cầu an ninh lương thực và cải thiện tình trạng dinh dưỡng của họ.

 

Tiêu thụ chè bình quân đầu người trên toàn cầu đã tăng 2,5% trong thập kỷ qua, với sự mở rộng đáng kể ở các nước sản xuất chè. Các nền kinh tế đang phát triển ở Đông Á, Châu Phi, Châu Mỹ Latinh và Caribe đã và đang thúc đẩy tăng trưởng nhu cầu. Tại các thị trường châu Âu trưởng thành hơn, cũng như các nước tiên tiến khác, nhu cầu về chè đã giảm xuống.

 

Nhu cầu đổi mới là hiển nhiên, khi người tiêu dùng ngày càng yêu cầu các thành phần hữu cơ, và sự pha trộn và hương vị đa dạng. Ngày càng có nhiều sự quan tâm đến các loại trà đặc sản chất lượng cao hơn, với trà xanh và trà trái cây ngày càng phổ biến, đặc biệt là ở châu Âu, do những lợi ích sức khỏe thực sự hoặc được nhận thức.

Thách thức

 

Đặc biệt, ngành này cần cân bằng giữa nhu cầu mở rộng và yêu cầu bền vững ở tất cả các giai đoạn của chuỗi giá trị.

 

Việc tiêu thụ chè ngày càng tăng ở các nước sản xuất, được thúc đẩy bởi sự gia tăng dân số và thu nhập, đã làm giảm sản lượng có thể xuất khẩu trong hai thập kỷ qua. Tuy nhiên, mức tiêu thụ bình quân đầu người vẫn ở mức thấp so với các thị trường nhập khẩu. Do đó, phải làm nhiều hơn nữa để tăng nhu cầu bằng cách khám phá các cơ hội thị trường đang thịnh hành.

 

Giá chè tổng hợp của FAO, bao gồm các loại chè nghiền, xé, cuộn (CTC) và các loại chè chính thống (orthodox) tại bốn cuộc đấu giá lớn (Mombasa, Colombo, Kolkata và Kochi), đã giảm 12% trong năm 2019 xuống mức trung bình là 2,42 USD / kg.

 

Giá tổng hợp tiếp tục giảm trong quý 1 (Q1) năm 2020 xuống còn 2,28 USD / kg, do khối lượng lớn và các biện pháp áp đặt của nhiều quốc gia nhằm ngăn chặn sự lây lan của COVID-19. Kể từ tháng 4 năm 2020, giá đã phục hồi lên mức trung bình là 2.60 USD / kg (R46,75 / kg). Mặc dù có sự sụt giảm trong quý 1 năm 2020, nhưng giá cả trong cả năm 2020 trung bình vẫn cao hơn năm 2019, ở mức 2,52 USD / kg, tăng 4,2%.

 

Năm 2021, giá chè quốc tế giảm xuống còn 2.44 USD / kg do đại dịch gián đoạn hậu cần ảnh hưởng đến thương mại và Kenya, do sản lượng thặng dư, đã bán chè của mình với giá cạnh tranh cao.

 

Trong quý 2 năm 2021, giá đã phục hồi, đạt 2.85 USD / kg vào tháng 4, mức cao nhất kể từ tháng 5 năm 2018. Điều này là do sự tăng đột biến lớn tại cuộc đấu giá Colombo ở Sri Lanka, kết quả của việc nguồn cung thắt chặt từ quốc gia đó. Giá cũng tăng tại phiên đấu giá Kolkata ở Ấn Độ, do nhu cầu tăng, sau khi cắt giảm nguồn cung ở Sri Lanka và việc nới lỏng các hạn chế thương mại COVID-19.

 

Giá chè và thương mại cũng được dự báo sẽ bị ảnh hưởng bất lợi bởi cuộc chiến Nga-Ukraine, vì Nga là nhà nhập khẩu chè lớn nhất của Ấn Độ, nhà nhập khẩu chè lớn thứ ba của Sri Lanka và nhà nhập khẩu chè lớn thứ năm của Kenya.

 

Sản lượng chè thế giới năm 2021 ước tính tăng lên 6,5 triệu tấn, từ 6,3 triệu tấn vào năm 2020, do sản lượng chè đen phục hồi sau sự thiếu hụt năm 2020 ở một số nước sản xuất chính như Ấn Độ và Sri Lanka.

 

Trung Quốc vẫn là nhà sản xuất lớn nhất, chiếm 47% sản lượng toàn cầu, đạt 3,1 triệu tấn vào năm 2021, so với 2,9 triệu tấn vào năm 2020.

 

Sản lượng tại nhà sản xuất lớn thứ hai, Ấn Độ, phục hồi vào năm 2021 lên 1,33 triệu tấn so với 1,26 triệu tấn vào năm 2020. Xuất khẩu phục hồi nhẹ từ sự suy thoái liên quan đến COVID-19 vào năm 2020 lên khoảng 1,8 triệu tấn vào năm 2021, do khối lượng xuất khẩu từ Kenya và Trung Quốc cao hơn, và các chuyến hàng từ Sri Lanka đã được nối lại.

 

Tiêu thụ toàn cầu đã tăng hàng năm 3,5% trong thập kỷ qua và ước tính đạt khoảng 6,4 triệu tấn vào năm 2021, được củng cố bởi nhu cầu mạnh mẽ ở các nước sản xuất lớn (Trung Quốc và Ấn Độ), cũng như các nền kinh tế mới nổi. .

 

Tiêu thụ chè bình quân đầu người trên toàn cầu đã tăng 2,5% hàng năm trong thập kỷ qua. Trong khi sự sụt giảm đã được ghi nhận ở các thị trường nhập khẩu truyền thống là Châu Âu, Bắc Mỹ và Nga. Tuy nhiên, mức tiêu thụ chè bình quân đầu người đã tăng lên ở các nước sản xuất, mặc dù trong hầu hết các trường hợp đều tăng nhẹ.

 

Các dự báo trung hạn dựa trên kết quả của mô hình thương mại cân bằng từng phần của FAO đối với các nước xuất nhập khẩu chè chính.

 

Tiêu thụ gia tăng đáng kể

 

Sản lượng chè đen toàn cầu được dự báo sẽ tăng hàng năm 2,1% cho đến năm 2030, tốc độ chậm hơn một chút so với thập kỷ trước, khi mức tăng trưởng ở mức 2,4%.

 

Sự mở rộng ở Trung Quốc dự kiến ​​sẽ là đáng kể (4,1%), được củng cố bởi sự tăng trưởng mạnh mẽ của nhu cầu nội địa đối với chè đen. Sản lượng của hai nhà xuất khẩu chè đen hàng đầu là Kenya và Sri Lanka dự kiến ​​sẽ tăng lần lượt 2,1% và 0,6% một năm, trong khi sản lượng ở Ấn Độ dự kiến ​​tăng 2,3% / năm. Sản lượng chè xanh thế giới được dự báo sẽ tăng với tốc độ nhanh hơn 6,3% / năm và sản lượng được dự đoán sẽ tăng gần gấp đôi ở Trung Quốc vào năm 2030.

 

Việc mở rộng dự kiến ​​sẽ là kết quả của việc tăng năng suất thông qua việc tái canh các giống năng suất cao hơn. Việt Nam cũng dự kiến ​​sẽ tăng đáng kể sản lượng chè xanh với tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm là 4%.

 

Tiêu thụ chè đen trên thế giới đã tăng 3,5% trong thập kỷ qua, phản ánh sự tăng trưởng mạnh mẽ ở các nước sản xuất đã bù đắp nhiều hơn nhu cầu nhập khẩu thấp ở các thị trường nhập khẩu chè truyền thống.

 

Tiêu thụ chè đen dự kiến ​​sẽ tăng 2% trong thập kỷ tới. Sự mở rộng lớn nhất trong năm quốc gia sản xuất hàng đầu được dự báo là ở Trung Quốc, nơi tiêu thụ dự kiến ​​sẽ tăng với tốc độ tăng trưởng hàng năm là 4,9% hàng năm, vì trà đen, trà pu'er và trà đậm được ưa chuộng do nhận thức ngày càng tăng về những lợi ích sức khỏe liên quan đến việc uống đồ uống này.

 

Sự tăng trưởng mạnh mẽ cũng được kỳ vọng ở nhiều nước sản xuất ở Châu Phi và Châu Á, chẳng hạn như Uganda (8,1%), Rwanda (5,1%), Kenya (4,3%), Malawi (4%), Zimbabwe (3, 8%), Ấn Độ (2%) và Sri Lanka (1,4%).

 

Ảnh hưởng của đại dịch đối với thị trường chè được ước tính là vừa phải. Thị trường sẽ tiếp tục chứng kiến ​​nhu cầu mạnh mẽ ở các nước đang phát triển và mới nổi, tạo ra cơ hội thu nhập nông thôn mới và góp phần đảm bảo an ninh lương thực.

 

Xuất khẩu chè thế giới đã tăng hàng năm 0,5% trong thập kỷ qua. Xuất khẩu chè đen ghi nhận mức tăng nhẹ 0,1% do các lô hàng từ Kenya và Ấn Độ ngày càng tăng, bù lại các lô hàng giảm từ Sri Lanka, nước xuất khẩu chè đen lớn thứ hai. Xuất khẩu chè xanh tăng 2,3%, chủ yếu do doanh số bán của Trung Quốc và Việt Nam tăng.

 

Trong trung hạn, xuất khẩu chè đen dự kiến ​​sẽ tăng 1,4% nhờ các lô hàng lớn hơn từ Kenya. Xuất khẩu chè xanh thế giới dự kiến ​​sẽ tăng với tốc độ nhanh hơn, khoảng 4% / năm. Trung Quốc dự kiến ​​sẽ tiếp tục thống trị thị trường xuất khẩu chè xanh, chiếm hơn 70% lượng chè xanh xuất khẩu toàn cầu và ghi nhận mức tăng hàng năm 3,6% cho đến năm 2030, tiếp theo là Việt Nam, với hơn 20%. . Về tốc độ tăng trưởng, Việt Nam và Nhật Bản được dự báo sẽ dẫn đầu, lần lượt là 7% và 6,5%

 

Biến đổi khí hậu

 

Những thách thức khác phải được giải quyết để đảm bảo tính bền vững lâu dài của ngành chè, bao gồm hiện tượng nóng lên toàn cầu, đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản lượng và chất lượng. Các biện pháp thích ứng do FAO khuyến nghị bao gồm trồng các giống chè chịu hạn và chịu áp lực cao, đa dạng hóa sản xuất, xen canh, canh tác hữu cơ và đầu tư vào bảo tồn nguồn nước.

 

Các kế hoạch bền vững môi trường liên quan đến chất lượng đất và bảo tồn đa dạng sinh học cần được ưu tiên.

 

Việc thúc đẩy minh bạch thị trường và tính bền vững kinh tế của chuỗi giá trị chè cần được quan tâm. Giá chè quốc tế tính theo giá thực tế, được điều chỉnh theo lạm phát, đã giảm trong bốn thập kỷ qua, phản ánh xu hướng cải tiến kỹ thuật để tăng năng suất và sản lượng nhanh hơn nhu cầu, do tăng dân số và thu nhập.

 

Tính bền vững kinh tế đối với các hộ sản xuất chè quy mô nhỏ chỉ có thể được đảm bảo nếu lợi nhuận từ các hoạt động trồng chè có thể trang trải ít nhất chi phí sản xuất và chi tiêu cơ bản của hộ gia đình.

 

Đổi mới và đa dạng hóa sản phẩm là chìa khóa để mở rộng thị trường trong tương lai và thúc đẩy tiêu thụ chè.

 

V.A - Mard, theo Farmersweekly.

 

Trở lại      In      Số lần xem: 82

[ Tin tức liên quan ]___________________________________________________
Designed & Powered by WEBSO CO.,LTD