Tên khoa học: Phakopsora pachyrhizi Sydow, Phakopsora sojae Sawada.
Đây là một bệnh rất phổ biến ở các vùng trồng đậu nành, gây hại với các mức độ khác nhau, trên hầu hết các giống đậu nành đang canh tác. Bệnh có thể xuất hiện trên tất cả các mùa vụ tại Đồng bằng sông Cửu Long, nhưng bệnh thường phát triển mạnh vào vụ Hè Thu, khi có mưa nhiều, lớp không khí ở mặt đất có độ ẩm cao. Bệnh thường nặng ở các ruộng đậu nành xen canh với bắp.
Bệnh có thể tấn công từ khi cây đậu nành có hai lá kép cho đến lúc trái chín. Bệnh phát triển chậm vào giai đoạn từ cây con đến trước khi ra hoa, nhưng sau đó bệnh sẽ phát triển nhanh và nặng hơn. Lá còn non có sức chống chịu bệnh cao hơn các lá già. Điều này có thể do ở lá non có chứa nhiều đạm tổng hợp và đạm protein hơn ở lá già.
Lá, thân và trái đậu nành đều bị nhiễm bệnh, nhưng bệnh xuất hiện chủ yếu trên các lá già.
Trên lá, vết bệnh mới xuất hiện là những đốm tròn nhỏ, có nhiều màu sắc khác nhau: xanh nhạt, nâu vàng hoặc nâu xám, lấm tấm như đầu kim, rải rác đều trên mặt lá. Sau đó vết bệnh phát triển rộng ra khoảng 1mm, có dạng tròn hoặc dạng có góc cạnh hoặc bất dạng, có màu nâu vàng hoặc nâu đỏ như màu rỉ sắt hoặc nâu đen. Đặc tính về màu sắc và kích thước vết bệnh thường thay đổi khác nhau, chủ yếu là do khả năng gây bệnh của nấm, giống đậu nành và điều kiện thời tiết. Triệu chứng bệnh đặc biệt là vết bệnh nhô lên ở hai mặt lá, thường nhô cao ở mặt dưới lá. Đây là do đặc tính thích nghi môi trường của nấm bệnh: ở mặt dưới của lá có ẩm độ và nhiệt độ thích hợp cho nấm phát triển. Ngoài ra, mưa và ánh nắng gay gắt cũng không ảnh hưởng trực tiếp như ở mặt trên của lá. Bệnh nặng, các vết bệnh liên kết lại với nhau, làm cho lá bị khô cháy từng mãng hoặc cả lá, lá rụng nhiều, cây mất dần khả năng quang hợp. Nếu bệnh nặng vào giai đoạn cây chưa ra hoa, kết trái, sẽ làm thất thu năng suất hoàn toàn.
(54).png)
Bệnh rỉ hại đậu nành (nành) do nấm Phakopsora pachyrhizi Sydow; Phakopsora sojae Sawada.
Do nấm Phakopsora pachyrhizi Sydow; Phakopsora sojae Sawada.
Nấm gây bệnh thuộc lớp nấm Đãm (Basidiomycetes). Trên đồng ruộng, nấm gây bệnh thường ở dạng sinh sản vô tính, thường gặp nhất là các hạ bào tử (uredospore), chúng tập hợp lại thành các hạ bào quần (uredosores) nhô lên ở hai mặt lá.
Hạ bào quần có kích thước 197- 258 x 97-108 micron, được thành lập dưới lớp biểu bì lá, sau đó nhô lên khỏi bề mặt lá.
Hạ bào tử có kích thước 4,7-13 x 2,1-5,6 micron, gồm một tế bào không màu hoặc vàng nhạt, dạng bầu dục không đều (có đầu trên tròn, hơi phình to, đầu dưới thu nhỏ lại), bên trong hiện rõ 1-2 hạt dầu.
Khi gặp trời rét, vết bệnh có màu nâu đen hoặc đen do ổ nấm được thành lập là những đông bào quần (teleutosores, teliosori), chứa các đông bào tử (teleutospores, teliospores). Đông bào tử có kích thước 12-34 x 5-13 micron, gồm một tế bào màu nâu, dạng bầu dục dẹp (ellip) hoặc góc cạnh.
- Biện pháp canh tác, kỹ thuật:
* Giống: Nên trồng giống đậu nành kháng hoặc ít nhiễm bệnh. Giống Tainung 63 kháng được bệnh này. Kết quả trắc nghiệm tại Trường Đại Học Cần Thơ qua hai vụ ĐX 82-83 và ĐX 83-84 cho thấy các giống/dòng sau đây tỏ ra ít bị nhiễm bệnh: Orba, Dun, DL, C 5-20, 1338 mới, MTĐ 22, MTĐ 22-1, MTĐ 22-3, MTĐ 22-4 và MTĐ 120-2.
Trong những năm qua, đa số các giống đậu nành được trồng tại Đồng bằng sông Cửu Long đều bị nhiễm bệnh. Tuy nhiên, nhờ đặc tính nhiễm trể nên thất thu năng suất không đáng kể. Thực tế nhất, nên chọn giống từ ruộng không bị bệnh hoặc chỉ nhiễm nhẹ. Hạt tốt, đầy đặn cũng là yếu tố giúp cây phát triển tốt, chống chịu được bệnh.
* Thời vụ: giữ vai trò quan trọng trong việc phòng bệnh. Tại Đồng bằng sông Cửu long, không riêng bệnh rỉ mà đối với đa số các bệnh do nấm và vi khuẩn, đậu nành được trồng ở vụ Đông Xuân thường bị nhiễm bệnh nhẹ hơn ở vụ Hè Thu. Nên gieo sạ đúng thời vụ.
* Kỹ thuật canh tác:
+ Mật độ gieo sạ: Cần bảo đảm mật độ gieo sạ ở từng vùng canh tác, gieo sạ dày sẽ tạo điều kiện vi khí hậu thích hợp cho bệnh phát triển, ngược lại, gieo sạ thưa thì cỏ dại sẽ phát triển mạnh.
+ Nước tưới: Áp dụng chế độ nước tưới đầy đủ không để ruộng bị khô hạn hoặc bị úng nước. Bảo đảm nguồn nước tưới không chứa mầm bệnh.
+ Phân bón: Bón phân đầy đủ và cân đối, không bón quá nhiều phân đạm, tăng cường phân lân và kali cho những ruộng thường xuyên bị nhiễm nặng.
* Vệ sinh đồng ruộng.
+ Đất: sửa soạn kỹ, nên phơi đất để diệt bớt nguồn bệnh hoặc khử đất bằng thuốc trừ nấm
+ Sau vụ mùa và trước khi canh tác, nên gom các xác bã cây và cỏ dại để thiêu đốt hoặc chôn sâu, nhất là ở những ruộng đã nhiễm bệnh nặng.
* Khử hạt: nguồn lây lan quan trọng của bệnh này là các hạ bào tử của nấm bệnh bám trên hạt giống, nên việc khử hạt là rất cần thiết để bão vệ cây ở giai đoạn cây còn nhỏ. Có thể khử hạt bằng nước “ba sôi - hai lạnh“ (khoảng 52oC) trong 15 phút, hoặc bằng nước muối 5%, hoặc thuốc khử hạt giống 0,1%-0,2 %.
- Biện pháp hóa học:
+ Cần phát hiện bệnh sớm và sử dụng thuốc kịp thời. Áp dụng thuốc khi có bệnh xuất hiện.
+ Loại thuốc: có thể dùng một trong các loại sau: Tilt 250ND, Tilt super 300ND.
+ Định kỳ: xịt 2-3 lần, cách nhau 10-15 ngày, trường hợp bệnh nặng thì xịt định kỳ 7 ngày một lần cho đến khi bệnh ngưng phát triển.
Theo Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (WASHINGTON, Nov. 10, 2004), chủng nấm gây bệnh rỉ có hai nòi chính: nấm rỉ gây hại nghiêm trọng cho năng suất đậu tương là Phakopsora pachyrhizi là nòi gây bệnh phổ biến được tìm thấy ở Louisiana là có nguồn gốc ở châu Á. Phakopsora pachyrhizi được phát hiện đầu tiên tại Nhật năm 1902 và được đặt tên vào năm 1914. Lần đầu tiên, bệnh được phát hiện tại Mỹ vào năm 1922, vùng Bắc Carolina. Bệnh rỉ Phakopsora pachyrhizi mới đây cũng được phát hiện tại Hawaii, Châu Phi và Nam Mỹ. Ngoài đậu tương, nấm Phakopsora pachyrhizi người ta còn thấy trên 87 loài cây khác nhau. Một nòi bệnh rỉ khác là Phakopsora meibomiae được phát hiện từ năm 1992 tại Puerto Rico. (Wolf, 1922).
Bào tử nấm rỉ được phân tán rất xa theo gió và gây hại qua hạ bào tử (uredospore) phát triển trên lá làm rụng lá. Bệnh cũng có thể gây hại trên thân, cuống lá và trái. Bệnh ban đầu xuất hiện ở tầng lá thấp, khi bắt đầu hình thành trái thì bệnh rỉ lan ra và phá hại các tầng lá trên. Áp dụng thuốc trừ nấm bệnh có thể giảm bớt tổn thất năng suất nhưng phải phát hiện sớm ngay từ khi bắt đầu xuất hiện vết bệnh ở tầng lá thấp.
Năm 1984, một số kết quả nghiên cứu tại Trung tâm nghiên cứu và Phát triển rau đậu Châu Á (AVRDC) tại Đài Loan cho thấy hầu hết các giống đậu tương đều nhiểm bệnh rỉ sắt, nhất là những giống nhập từ Mỹ, chỉ có 1% số giống (có nguồn gốc từ Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên) là có sức đề kháng bệnh trung bình. (Bùi Trung Tá, 1984)
Tính kháng bệnh rỉ Phakopsora pachyrhizi được xác định bởi 4 đơn di thể trội (Rpp1, Rpp2, Rpp3, và Rpp4). Rpp1 được ghi nhận là tạo ra tính kháng với một vài chủng nấm bệnh rỉ trên giống đậu tương India 73-1. Rpp1 và một số gen khác duy trì tổn thương dạng RB (red-brown) và làm hạn chế dạng TAN của bệnh rỉ. (Miles et al, pers. comm.).
Nghiên cứu bệnh rỉ tại Việt Nam: Ở Việt Nam, bệnh rỉ đã được phát hiện từ thập niên 1940 và hiện nay bệnh đã gây hại trên tất cả các vùng trồng đậu nành từ Bắc vào Nam. Bệnh hại nặng làm năng suất đậu nành giảm tới 40-50% hoặc có trường hợp gần như không cho thu hoạch: Xuân Lộc (Đồng Nai năm 1981); Phúc Thọ (Hà Tây năm 1982). Ở nước ta, bệnh gây hại quanh năm. Ở các tỉnh phía Bắc, bệnh gây hại nặng trong vụ Xuân. Ở Phía Nam bệnh gây hại nặng từ cuối vụ Hè Thu, chuyển sang gây hại nặng trong vụ Thu Đông, đặc biệt tại các tỉnh Đông Nam Bộ và Tây Nguyên trong cuối mùa mưa có nhiều sương mù vào tháng 10. (Phạm Văn Biên et al., 1996).
Ở Việt Nam, các giống đậu tương hiện trồng trong sản xuất cũng có mức độ nhiễm bệnh nặng nhẹ khác nhau. Đặc biệt giống ĐH 4 bị nhiễm bệnh rỉ rất nặng, có nơi có lúc hoàn toàn không cho thu hoạch. Giống địa phương Nam Vang phổ biến ớ các tỉnh phía Nam cũng ít bị bệnh rỉ sắt. (Phạm Văn Biên và Hà Hữu Tiến, 1996).
Tại Việt Nam hai giống đậu tương Cao Bằng U8325 và ĐT 2000 đã được xác định là hai giống kháng bệnh rỉ. Trong khi đó một vài giống nhập nội được giới thiệu kháng bệnh rỉ như PI200492 (Rpp1), PI230970 (Rpp2), and PI462312b (Rpp3) thì lại bị nhiễm rỉ với nòi bệnh tại địa phương (Binh T. Nguyen, 2005).
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của chỉ thị phân tử, một quy trình công nghệ chọn giống mới được ra đời, đó là quy trình chọn giống nhờ chỉ thị phân tử (Marker-Assisted Selection) (MAS).Thông thường, trong quy trình chọn tạo giống truyền thống, người ta đưa nguồn gen mới có tính trạng mong muốn vào 1 giống khác bằng phương pháp hồi giao liên tục qua 5-6 thế hệ, hoặc chọn lọc cá thể trong quần thể phân ly từ thế hệ F2 đến các thế hệ tiếp theo. Mỗi gen chính thường chỉ kháng được với 1 chủng gây bệnh hoặc nòi gây hại nào đó, do vậy nếu quy tụ được vài gen kháng vào một dòng hoặc giống cây trồng nào đó thì sẽ tạo ra được 1 dòng mới kháng được với nhiều chủng gây bệnh hoặc nhiều nòi gây hại. Như vậy muốn tạo ra một giống kháng bền vững đối với dịch hại, người ta phải đưa được vài gen kháng hiệu quả cao vào "genome đích". Bằng phương pháp chọn giống truyền thống, việc đưa gen lặn vào tổ hợp lai, hoặc du nhập cùng một lúc vài gen mong muốn vào "genome đích" (quy tụ nhiều gen vào 1 dòng ưu việt) thường gặp rất nhiều khó khăn hoặc đôi khi không thể thực hiện được (Mohan và ctv, 1997). Còn đối với quy trình MAS, nguồn gen mới nhập được phát hiện gián tiếp thông qua các chỉ thị phân tử liên kết chặt với những gen đó. Như vậy chọn giống nhờ chỉ thị phân tử, khi phối hợp với chọn giống truyền thống, tỏ ra rất hiệu quả, tiết kiệm công sức và rút ngắn đáng kể thời gian tạo giống. Ngoài ra chỉ thị phân tử còn giúp các nhà chọn giống xác định gián tiếp các cặp lai có khả năng cho ưu thế lai.
Trên cây đậu tương đã có nhiều nghiên cứu gần đây ứng dụng thành công công nghệ MAS và phân tích quantitative trait loci (QTL) trong nhiều mục đích khác nhau:
Tên khoa học: Rhizoctonia solani
Bệnh có thể tấn công suốt giai đoạn sinh trưởng của cây, thường gây thiệt hại nặng cho cây con, thường xảy ra trong khu đất cũ đã phát bệnh và ẩm độ cao. Nhiệt độ thích hợp để nấm phát triển là 25-30oC.
Cây con: cổ thân bị úng và teo tóp lại, cây bị ngã ngang nhưng lá vẫn còn xanh tươi, sau đó mới héo lại. Bệnh thường tấn công mạnh vào 5-10 ngày sau khi gieo.
Cây lớn: bệnh xâm nhiễm ở thân, nhất là ở phần gốc thân, làm cho mô vỏ bị thối nâu hoặc nâu đen, viền vùng thối không đều đặn và có màu nâu đỏ, phần bệnh hơi lõm vào, sau đó thân bị nứt ra, lá héo khô rồi rụng dần. Cây bị nhiễm bệnh lá rũ có thể bị gảy, cây chậm phát triển và thường bị chết.
Bệnh được nhận diện dễ dàng nhờ vào dấu hiệu của bệnh, đó là các sợi nấm, hạch nấm của nấm gây bệnh, chúng phát triển ngay trên vết bệnh ở gốc thân, phát triển lan lên thân và vùng đất quanh gốc cây. Rễ bị thối và thường có màu nâu đỏ.
Tuy nhiên, ở ngoài đồng bệnh thường dễ nhầm lẫn với thiệt hại do ruồi đục thân đậu nành (Melanagromyza sojae), có thể phân biệt nhờ vào các dấu hiệu bệnh nêu trên. Bệnh cũng thường xuất hiện cùng lúc với thiệt hại do ruồi đục thân do điều kiện thời tiết nóng và ẩm đều phù hợp cho hai lọai dịch hại này.
Bệnh do nấm Rhizoctonia solani Kuhn, giai đọan sinh sản hữu tính là Thanatephorus cucumeris thuộc lớp nấm Đãm. Sợi nấm màu trắng, hạch nấm màu trắng lúc mới thành lập, sau đó có màu nâu vàng hoặc nâu đen, hạch nấm hình cầu có bề mặt trơn láng, kích thước 1-2mm. Đây là hai dạng lưu tồn và lây lan chủ yếu của mầm bệnh.
Bệnh héo xanh và héo vàng trên khoai tây, bệnh chết cây con trên ớt, bệnh khô vằn trên hồ tiêu - lúa - ngô, bệnh rụng lóng - chết dây hồ tiêu, bệnh héo cây con, héo khô trên đậu nành, bệnh lở cổ rễ...
+ Vệ sinh đồng ruộng, thu gom tàn dư cây trồng vụ trước
+ Nhổ bỏ những cây bị bệnh. Đốt để tiêu diệt nguồn nấm bệnh.
+ Cày bừa kỹ, san mặt ruộng cho bằng phẳng để đất thoáng và không đọng nước.
+ Chỉ dùng hạt giống không bị bệnh
+ Luân canh cây trồng với cây khác họ để tiêu diệt nguồn bệnh, có hiệu quả khi luân canh với cây lúa nước.
+ Đối với cây họ bầu bí, dưa không dùng rơm rạ lúa bị bệnh đốm vằn tủ liếp trồng. Đốt rơm rạ trước khi trồng dưa.
+ Không dùng nước tưới từ mương lục bình
+ Chọn đất trồng phải cao ráo, dễ thoát nước; vườn ươm thoát nước tốt không có bóng râm. Đất vườn ươm phải xử lý trước khi gieo như đốt rơm rạ hoặc phủ nilon phơi nắng vài tuần, hoặc xử lý vôi.
+ Sử dụng phân hữu cơ ủ hoai mục, không bón nhiều đạm.
+ Khi bệnh xuất hiện và phát triển có thể sử dụng các loại thuốc BVTV để phòng trị: Validacin, Bonanza,...
+ Phòng ngừa bằng các loại thuốc đặc hiệu như Amistar 250SC với các hoạt chất Hexaconazole, Difenoconazole…
- Phun thuốc: hoạt chất Azoxystrobin, Validamycin hay hỗn hợp các hoạt chất (Mandipropamid + Chlorothalonil)… phun 7-10 ngày/lần.
- Đối với cây bông: Sau khi bông mọc, có thể phun thuốc từ 1 đến 2 lần bằng một trong các loại thuốc sau:
+ Monceren 250 SC, liều lượng 0,3–0,4 lít/ha
+ Monceren 70WP liều lượng 0,2 kg/ha.
+ Validamicin 50 EC liều lượng 1,0 lítt/ha
Tên khoa học: Rhizoctonia solani
Bệnh này đã được ghi nhận trên cây đậu nành trồng ở vùng nhiệt đới và bán nhiệt đới. Đầu tiên, bệnh được ghi nhận ở Philippines vào năm 1918, sau đó, ở Ấn Độ, Mã Lai, Mexico, Puerto Rico, miền nam Trung Quốc, Taiwan và Louisiana. Ở Louisiana, bệnh đã làm giảm 35% năng suất. Ngoài đậu nành , nấm bệnh còn tấn công trên các loài đậu khác, như: đậu xanh (Phaseolus vulgarus), đậu lima (P. limemsis), cowpeas (Vigna spp.), clover (Trifolium spp.), đậu nành hoang (Glycine javanica), v.v..., trên lúa và các loài cỏ dại.
(52).png)
Bệnh cháy nhũn lá do nấm Rhizoctonia solani trên cây đậu nành.
Tại Việt nam, bệnh có thể đã xuất hiện từ lâu. Bệnh đã ngày càng phổ biến, góp phần làm giảm năng suất đậu nành trồng ở Đồng bằng sông Cửu Long trong những năm đầu của thập kỷ 80. Trong thời gian này, việc phòng trị bệnh chưa được hữu hiệu vì chưa rõ nguyên nhân gây bệnh. Đến vụ Hè - Thu 1985, bệnh mới được xác định tác nhân gây bệnh và các điều kiện ảnh hưởng đến sự phát triển của bệnh.
Bệnh thường xuất hiện khi đậu bắt đầu ra hoa và sẽ phát triển mạnh sau đó. Bệnh cũng có thể tấn công khi đậu còn nhỏ (hai tuần sau khi gieo). Bệnh xuất hiện càng sớm thì càng làm giảm năng suất. Bệnh phát sinh và lây lan nhanh khi có mưa nhiều (ẩm độ cao), và sẽ ngưng phát triển khi gặp trời nắng khô. Bệnh nặng ở những ruộng đậu trồng ngay sau vụ lúa bị nhiễm bệnh đốm vằn hoặc ở những ruộng đậu được ủ gốc bằng rơm lúa bệnh đốm vằn. Đậu được gieo sạ dày, nhiều cỏ dại, bệnh sẽ dễ dàng phát sinh, lây lan và lưu tồn cho vụ sau.
Trong ruộng đậu có từng lõm nhỏ bị héo úa rồi lụn dần. Lá mới bị nhiễm bệnh sẽ biến màu như bị nhúng vào nước sôi, có những đốm to màu xanh nâu. Sau đó, lá trở nên nhũn nước và rũ xuống, bề mặt lá có nhiều sợi nấm trắng làm cho lá kết dính với các lá khác và với các cành, thân, trái bên dưới, làm cho các bộ phận này bị nhiễm bệnh. Lá dần dần cháy khô. Cành, thân, trái cũng có những vết nâu và cháy khô. Dấu hiệu nổi bật của bệnh này là có sự xuất hiện của các sợi nấm và hạch nấm (sclerotes) trên các bộ phận bị bệnh. Bệnh nặng làm lá, cành, trái rụng sớm, cây sinh trưởng kém.
Do nấm Rhizoctonia solani Kuhn, giai đọan sinh sản hữu tính là Thanatephorus cucumeris thuộc lớp nấm Đãm.
Đây là loại nấm sống trong đất, có khả năng sống cạnh tranh hoại sinh rất mạnh và tạo hạch. Trên lá, thân, cành và trái của các cây bệnh có nhiều sợi nấm trắng hoặc nâu và hạch nấm được hình thành trên đó. Khi mới được thành lập, hạch nấm có màu trắng; sau đó, chuyển dần sang màu nâu hoặc nâu đen. Hạch nấm có hình dạng và kích thước rất thay đổi. Chúng có dạng tròn hoặc bầu dục nhưng mặt bám vào cây thì dẹt, có đường kính: 1-4mm, bề mặt của hạch nấm có nhiều lổ nhỏ như tổ ong, có chất dịch màu nâu vàng đọng lại ở hạch còn non. Các hạch nấm mọc riêng lẻ hoặc kết dính vào nhau thành từng cụm. Hạch nấm được cấu tạo bởi những sợi nấm cuộn vào nhau một cách lỏng lẻo. Sợi nấm có tính phân nhánh vuông góc và sợi nấm con co thắt lại ở điểm kết hợp với sợi nấm mẹ. Sợi nấm có đường kính: 3-17 micron, tỉ lệ chiều dài và đường kính sợi nấm là 5:1.
Một số bệnh hoặc tên gọi khác của bệnh do nấm Rhizoctonia solani gây ra:Bệnh héo xanh và héo vàng trên khoai tây, bệnh chết cây con trên ớt, bệnh khô vằn trên hồ tiêu - lúa - ngô, bệnh rụng lóng - chết dây hồ tiêu, bệnh héo cây con, héo khô trên đậu nành, bệnh lở cổ rễ...
- Giống: Đa số các giống đều nhiễm bệnh nặng. Một số giống tỏ ra ít nhiễm như: Dun, Hạt to Lâm Đồng, Santa Maria, MTĐ 64, MTĐ 134 - 2, MTĐ 134 - 10, MTĐ 170 - 1 MTĐ 172 - 7, MTĐ 173 - 6, MTĐ 176 và MTĐ 225 - 3. Giống càng ngắn ngày thì bệnh càng trở nên trầm trọng hơn.
- Kỹ thuật canh tác: không nên trồng đậu sau vụ lúa bị nhiễm bệnh đốm vằn và không ủ ruộng đậu bằng rơm lúa bị bệnh này. Không gieo sạ dày, khi gieo nên áp dụng phương pháp gieo xen các hốc giữa các hàng (cây ít bị giáp tán) sẽ hạn chế được sự bộc phát và lây lan của bệnh.
- Thời vụ: vụ Đông - Xuân, bệnh thường ít xảy ra. Nếu trồng đậu vào vụ Xuân - Hè, nên gieo sạ sớm, bệnh sẽ ít tác hại đến năng suất.
- Vệ sinh đồng ruộng: áp dụng phương pháp giống như ở bệnh rỉ, đặc biệt chú ý đến việc làm sạch cỏ vì đây cũng là nguồn lưu tồn và lây lan quan trọng đối với bệnh này. Kết quả điều tra hai vụ Xuân - Hè và Hè - Thu 85 tại Nông Trại Thực Nghiệm Khu II, trường Đại Học Cần Thơ, cho thấy có 10 loài cỏ dại hiện diện trong ruộng đậu, là ký chủ phu của bệnh này: Cỏ mật (Brachiaria distachya), Cỏ cú (Cyperus rotundus), Cỏ túc hình nhỏ (Digitaria ciliaris), Cỏ lồng vực nước (Echinochloa colona), Cỏ lông công (Echinochloa cruss - galli), Cỏ mần trầu (Eleusine indica), Fimbristylis diphylla Vahl, Cỏ đuôi phụng (Leptochloa chinensis), Cỏ ống (Panicum repens) và Paspalum sp.
- Xử lý với thuốc VALIDAN 5DD, BONANZA 100 DD.
Tên khoa học: Fusarium sp.
Tên tiếng Anh: Fusarium wilt
Tác nhân gây hại: do nấm Fusarium sp., bao gồm: Fusarium Oxysporum, Fusarium orthoceras Appel...
- Nấm phát triển nhanh ở thời tiết nóng ấm (nhiệt độ 25-30oC). Ruộng đất cát, chua (pH 4-5), thiếu đạm và lân thường bị bệnh nhiều.
- Đất trầm thủy, úng nước trong mùa mưa. Đất trồng độc canh cây bầu bí dưa cũng là nguy cơ bị nhiễm bệnh cao. Nấm bệnh cũng dễ dàng lây lan qua vết thương cơ giới hay tuyến trùng, côn trùng chích hút rễ cây.
- Bệnh có thể xâm nhập vào củ thông qua vết thương xây xát khi thu hoạch và gây thối khô củ trong quá trình bảo quản.
Đính bào tử của nấm bệnh có hai dạng là tiểu đính bào tử (micro-conidia) và đại đính bào tử (macro-conidia), chúng được lan truyền nhờ gió và nước.
Nấm bệnh lưu tồn trong đất và trong xác cây bệnh. Nấm xâm nhiễm vào rễ qua các vết thương (do cơ học hoặc do tuyến trùng chích hút rễ) rồi phát triển lên thân, chủ yếu là làm nghẽn sự vận chuyển nước và chất dinh dưỡng trong cây, gây ra hiện tượng vàng lá và héo cây, ngòai ra nấm còn tiết độc chất hại cây.
(58).png)
Cây đậu nành bị bệnh héo rũ.
Bệnh xuất hiện ở cây con và cả cây trưởng thành, các lá dưới thấp bị vàng trước rồi lan dần lên các lá trên, sau cùng cả cây bị vàng héo, lá rụng dần.
(45).png)
Rễ cây đậu nành bị thối do nấm.
Rễ bị thối, phát triển kém. Gốc thân có nhiều sợi nấm trắng bao quanh dày đặc. Trong thân, các mô dẫn truyền có màu nâu và có nấm phát triển.
- Vun gốc cây con được vững chắc, tránh gây thương tích cho gốc thân và rễ trong lúc chăm sóc. Tránh trồng đậu nành nơi đất bị úng nước.
- Ngăn ngừa tuyến trùng trong đất.
- Phun thuốc Phòng trị bệnh bệnh như Copper B, TOPAN 70WP.
Tên khoa học: Peronospora manshurica (Naumov) Sydow
Bệnh còn được gọi là bệnh sương mai, rất phổ biến ở các vùng có khí hậu ẩm. Ở Đồng bằng sông Cửu long, bệnh thường nặng vào vụ Hè Thu và có thể thành dịch khi gặp điều kiện thuận lợi, ngay cả trong vụ Đông Xuân. Điều kiện khí hậu ở nước ta rất thích hợp cho bệnh này phát triển.
Bệnh tấn công chủ yếu trên lá đậu nành , trái đậu nành và hạt cũng bị nhiễm khi bệnh nặng. Đầu tiên, mặt trên lá có những đốm nhỏ màu vàng hoặc xanh nhạt, mặt dưới lá có những cụm nấm giống như phấn màu trắng xám. Đây là tập hợp các đính bào đài (conidiophores) và các đính bào tử (conidia) của nấm gây bệnh. Đốm bệnh sẽ chuyển sang màu xám sậm hoặc nâu sậm, lá khô và rụng sớm. Nấm bệnh cũng có khả năng xâm nhập vào lớp vỏ trái rồi vào hạt. Hạt bị phủ bởi một lớp bụi trắng (white crusts) với nhiều nõan bào tử (oospores). Bệnh nặng, trái và hạt không phát triển.
(54).png)
Triệu chứng bệnh đốm phấn ở mặt trên và mặt dưới lá đậu nành.
Do nấm Peronospora manshurica (Naumov) Sydow
Đính bào đài không màu và không vách ngăn, mọc thành chùm ở khí khẩu, có kích thước 350-880 x 6-8 micron, phân nhánh đôi ở đầu (đặc điểm này giúp ta nhận diện nấm được dễ dàng).
Đính bào tử là một tế bào không màu hoặc có màu vàng nhạt, hình cầu hoặc hình trứng, có màng mỏng, kích thước: 15-28 x 16-22 micron.
Noãn bào tử còn được gọi là bào tử nghỉ (resting spore), được thành lập bên trong mô cây, có vách dày, màu vàng, hình cầu có đường kính 24-40 micron. Bề mặt láng với cấu tạo võng lưới. Noãn bào tử có thể tồn tại ở hạt giống, bao phủ bên ngoài hạt giống làm cho lớp vỏ hạt cứng lại.
Trong thời gian cây đang sinh trưởng, nấm lây lan bằng đính bào tử, nấm được lưu tồn qua vụ sau bằng noãn bào tử trong xác bã của cây bệnh và trong hạt giống. Loại nấm này có nhiều dòng sinh lý khác nhau nên việc tuyển chọn giống kháng bệnh gặp nhiều khó khăn.
- Chọn hạt giống đậu nành ở những ruộng không bệnh. Sàng sẩy hạt trước khi tồn trữ hoặc trước khi gieo. Dùng giống chống bệnh.
- Chọn thời vụ thích hợp, tăng cường bón thêm phân lân và kali. Áp dụng biện pháp canh tác và vệ sinh đồng ruộng giống như ở bệnh rỉ. Khử hạt giống bằng thuốc hóa học trước khi gieo.
- Phun thuốc diệt nấm gốc lưu huỳnh hoặc Score 250 EC.
Tên khoa học: Xanthomonas campestris pv. phaseoli (Smith) Dowson.
Bệnh còn được gọi là "bệnh vết phồng vi khuẩn" hay "bệnh đốm ướt".
Biểu hiện bệnh chấm đỏ lá (bệnh vết phồng vi khuẩn) trên cây đậu nành do vi khuẩn Xanthomonas campestris pv. phaseoli (Smith) Dowson.
(57).png)
Sau bệnh rỉ, đây là bệnh khá phổ biến trên nhiều giống đậu nành . Ở một số nơi chuyên canh đậu nành trên thế giới, như ở tiểu bang lllinois (Mỹ), hầu hết các giống đều bị nhiễm bệnh này. Bệnh thích hợp trong điều kiện khí hậu ấm áp, lan truyền từ năm này sang năm khác bằng lá bị bệnh và cũng có thể từ hạt giống.
Bệnh tấn công cả cây con lẫn cây trưởng thành, nhưng bệnh thường phát triển trầm trọng từ khi ra hoa trở về sau.
Bệnh xảy ra trên lá, thân, cành và trái, chủ yếu là trên lá.
- Trên lá cây đậu nành: vết bệnh là những đốm nhỏ 1 - 2 mm, có góc cạnh hay bất dạng, màu xanh hơi vàng với tâm màu nâu đỏ. Mô tế bào ở giữa đốm bệnh phồng lên như bị ung thư, có một vòng hơi trũng bao quanh.
Khi bệnh phát triển, trên lá có những mãng vàng hoặc nâu với các đốm nhỏ màu nâu đậm. Sau đó, các mãng này bị thủng rách lổ chổ, do các mụn ở giữa đốm bệnh bị khô và rụng đi. Bệnh nặng, cây rụng hết lá.
Triệu chứng ban đầu trông dễ nhầm lẫn với bệnh rỉ, nhưng được phân biệt nhờ vào kích thước, hình dạng, màu sắc và độ nhô của đốm bệnh: vết bệnh rỉ nhỏ, sắc gọn hơn.
Triệu chứng ở giai đoạn sau của bệnh trông dễ nhầm lẫn với bệnh đốm nhũn lá (bacterial blight). Tuy nhiên, bệnh được phân biệt nhờ vào đặc tính hình thành sớm một vòng nhũn nước quanh đốm bệnh của bệnh đốm nhũn lá và hiện tượng thủng lổ chổ trên lá cũng xuất hiện rất sớm ở bệnh đốm nhũn lá.
(50).png)
Bệnh đốm đỏ lá (trái) và bệnh đốm nhũn lá (phải)
- Trên thân và cành cây đậu nành có các sọc ngắn màu nâu đỏ.
- Trên trái đậu nành có vết bệnh hình tròn.
Do vi khuẩn Xanthomonas campestris pv. phaseoli ( Smith ) Dowson.
Vi khuẩn hoạt động, có 1 - 2 chiên mao ở một cực (đầu), kích thước: 1,4 - 2,3 x 0,5 - 0,9 micron, thuộc gram âm (G-), không tạo bào tử, không có lớp dịch nhờn. Vi khuẩn xâm nhập vào cây qua vết thương hoặc qua khí khẩu (stomata). Vi khuẩn lưu tồn trong xác bả cây bệnh và trong hạt giống.
- Trồng giống đậu nành kháng bệnh: các ghi nhận trong và ngoài nước cho thấy có các giống kháng được bệnh này như: Scott, Clark 63, Black eyebrow, Davis, Vân nam, Ô môn 1, Năm Căn 1, Việt khái 3, Hòa khánh 74, MTĐ 9, MTĐ 10, MTĐ 13 và MTĐ 14.
- Vệ sinh đồng ruộng, cày sâu , trồng thưa vá luân canh.
- Khử hạt.
- Áp dụng thuốc gốc đồng.
Tên khoa học: Aspergillus spp
(41).png)
Đây là bệnh phổ biến rộng ở ĐBSCL và miền Đông nam bộ. Bệnh đã gây hại khá trầm trọng, nhiều ruộng đã phải thiêu hủy tòan bộ và gieo lại, làm trễ thời vụ và hao tốn hạt giống. Qua theo dõi chúng tôi ghi nhận rằng đậu nành được thu họaxh vào mùa nắng thì sẽ ít bị nhiễm bệnh này hơn là vào mùa mưa. Cũng có ghi nhận cho rằng, giống có hàm lượng chất béo càng cao thì càng dễ nhiễm bệnh này.
(50).png)
Hạt đậu nành bị bệnh và bào tử nấm Aspergillus spp
Hạt bị phủ một lớp mốc màu vàng xanh, vàng sậm hoặc nâu vàng tùy theo giai đọan phát triển của bệnh. Hạt bệnh thường mất khả năng nẩy mầm, trong trường hợp nhiễm nhẹ thì hạt có thể mọc mầm được nhưng cây con phát triển yếu và chết rất nhanh.
Bệnh do nấm Aspergillus spp., nấm bệnh có thể tấn công hạt đang được tồn trữ hoặc vừa được gieo xuống đất hoặc còn được mang trong trái ngòai đồng. Nấm bệnh được lưu tồn trong không khí, trong đất, trong nước và xác cây bệnh ngòai đồng, nhưng chủ yếu là trong hạt giống.
Vệ sinh đồng ruộng, khử đất và khử hạt giống trong khi tồn trữ và trước khi gieo. Bố trí thời vụ thích hợp để khi đậu cho trái và chín không rơi vào lúc có mưa.
Tên tiếng Anh: Soybean mosaic virus
Đây là một trong những bệnh quan trọng nhất ở nhiều nơi trên thế giới. Mức độ của bệnh tùy thuộc vào giống và khí hậu. Ở nhiệt độ cao, bệnh không biểu hiện Triệu chứng bệnh ra ngòai. Năng suất có thể giảm trên 25%. Bệnh được ghi nhận đầu tiên ở Mỹ vào những năm đầu của thập niên 1900. Bệnh hiện diện ở khắp các vùng trồng đậu nành trên thế giới. Khi bệnh xuất hiện sớm sẽ dẫn đến thất thu nặng.
Ở ĐBSCL, từ vụ đông xuân 1979-1980, bệnh tỏ ra khá phổ biến. Bệnh có thể xuất hiện khá sớm (vào 4 tuần sau khi gieo) và gây thiệt hại nặng ở những ruộng không được trị bệnh kịp lúc.
Lá bị mất màu, loang lổ giống như tấm khãm. Lá nhỏ lại, phát triển không đều, bìa lá cong xuống làm lá biến dạng. Phiến lá bị xếp nếp nhăn nhúm, có màu loang lổ xanh nhạt và xanh đậm và thường dày hơn lá bình thường. Dọc gân lá, mô tế bào nổi rộp lên những mụn màu xanh đậm.
(50).png)
Lá cây bị bệnh khảm do vi khuẩn soybean mosaic virus.
Triệu chứng bệnh trên lá trông gần giống triệu chứng bệnh đậu nành bị ngộ độc thuốc diệt cỏ 2,4 D. Việc sử dụng bất cẩn thuốc diệt cỏ cho ruộng đậu hoặc ở gần ruộng đậu, nhất là vào những ngày có gió mạnh có thể gây hại cho các ruộng đậu ở cách xa đó 30-60m.
(50).png)
Bệnh khảm, khảm vỏ hạt đậu nành (soybean mosaic virus).
Cây lùn do các lóng thân phát triển kém. Trái và hạt phát triển chậm lại, nhất là các trái ở phần trên của cây. Trái chín chậm, hạt nhỏ, vỏ hạt bị đổi thành màu nâu nhạt và đậm không đều, từ tễ hạt lan ra. Triệu chứng bệnh bệnh được biểu hiện rõ ở 18,5oC. Trên 29,5oC, triệu chứng bệnh sẽ ở dạng tiềm ẩn.
Do cực vi khuẩn SMV (soybean mosaic virus) Soja virus I (Gardner Kendrick) Smith. Soja virus I được truyền qua hạt giống, qua côn trùng mang truyền bệnh (vectors) và có thể truyền bằng cơ học. Các vectors quan trọng nhất là các lòai rầy mềm Macrosiphum, M. gei và M. pisi, và Myzus persicae, Disaulacorthum pseudosolani. Virus thuộc lọai lưu tồn không bền trong cơ thể vectors (non - persistent virus) và bị mất họat tính ở nhiệt độ 64-66oC trong 10 phút.
- Ruộng sản xuất giống nên được trồng sớm và bố trí cách ly với ruộng sản xuất đại trà.
- Dùng hạt giống tốt, đầy đặn, chống bệnh hoặc từ ruộng không bị bệnh. Khử hạt trước khi gieo như đối với bệnh đốm phấn.
- Cần phát hiện bệnh sớm và tiêu hủy cây bệnh. Vệ sinh đồng ruộng, trừ cỏ dại.
- Phun thuốc phòng trừ côn trùng mang truyền mầm bệnh.
Tên tiếng Anh: Mosaic virus
Đối tượng cây trồng bị hại: Bệnh gây hại trên nhiều loại cây trồng như cà chua, ớt, dưa, khoai tây, vừng, đậu…
- Bệnh phát sinh gây hại quanh năm, nặng trong mùa nắng nóng và nhẹ trong mùa mưa.
- Bệnh này được truyền từ cây bệnh sang cây khỏe bởi nhóm côn trùng chích hút như bù lạch và rệp dưa. Điều kiện khô và nóng sẽ là môi trường thuận lợi cho nhóm côn trùng chích hút phát triển gây hại cho cây trồng.
- Bệnh lây lan qua côn trùng chích hút như bọ trĩ, rầy mềm, bọ phấn…, qua cơ giới như dụng cụ lao động, qua hạt giống.
- Mật độ côn trùng chích hút càng cao thì tỉ lệ cây bị bệnh xoăn lá càng nhiều.
- Bệnh thường gây hại ở giai đoạn cây ra hoa kết trái trở về sau.
- Bệnh thường làm lá đọt non nhỏ, (xoăn) xoắn lại, lá bị mất màu, lốm đốm vàng không phát triển, lóng ngắn, cây trở nên giòn dễ gãy. Bệnh nặng cây còi cọc, đọt bị sượng, cây bị chùn lại, cây phát triển chậm, hoa bị vàng nhỏ và rụng, cây rất ít trái, trái nhỏ và vặn vẹo (dị dạng) và có vị đắng. Cuối cùng cây có thể bị chết.
- Bệnh xuất hiện càng sớm thì càng thất thu năng suất.
- Trồng giống kháng bệnh hoặc Không sử dụng nguồn giống ở những ruộng bị bệnh.
- Bón phân đầy đủ, cân đối và tăng cường thêm lượng phân chuồng hoai mục để tăng khả năng chống chịu bệnh cho cây sinh trưởng tốt.
- Vệ sinh tay chân, dụng cụ (dao, kéo) trước và sau mỗi lần cắt tỉa cành.
- Nhổ bỏ và tiêu hủy cây bệnh để tránh lây lan.
- Phun thuốc trừ nhóm côn trùng chích hút (bù lạch, rệp...) bằng thuốc thông dụng có hoạt chất Pymetrozin... như: ACTARA 25WG, VERTIMEC 1.8 ND.
Viện Khoa Học Kỹ Thuật Nông Nghiệp Miền Nam
Địa chỉ: 121 Nguyễn Bỉnh Khiêm, P. Tân Định, TP.HCM
Điện thoại: 028. 38234076 – 38228371
Website : http://iasvn.org - Email: iasvn@vnn.vn