Tên khoa học: Etiella zinkenella Treitschke
Họ: Phycitidae
Bộ: Lepidopera
Loài này chỉ thấy tấn công đậu nành mà không thấy trên các lọai đậu khác. Bướm nhỏ, sải cánh độ 15mm, màu vàng nâu nên rất tiệp với màu lá đậu khô hoặc thân và quả đậu sắp chín. Bướm đẻ trứng vào ban đêm, rải rác trên vỏ quả đậu non vừa có hạt phát triển.
(44).png)
Thành trùng, trứng, ấu trùng trong quả đậu nành (Nguồn: Chi cục BVTV An Giang)
Sâu nở ra đục ngay vào trong quả đậu nành và ở luôn bên trong ăn dần từ hạt này đến hạt khác. Do đó, thường ít thấy quả đậu nành có lổ đục nhưng khi tách quả ra thì lại thấy có sâu lớn ở bên trong. Sâu có thể ăn cả quả hay chỉ làm mẻ hạt, giảm phẩm chất hạt đậu. Vòng đời lâu độ 1 tháng và giai đọan sâu ăn hạt kéo dài độ 2 tuần. Khi ăn hết quả này sâu thường chui ra ngoài để đục sang quả khác nên loại đậu có quả chùm đóng khít dễ bị thiệt hại nhiều hơn.
- Nên xuống giống đồng lọat hoặc trồng các giống sớm có chu ky sinh trưởng ngắn để thu hoạch trước cao điểm phát triển của sâu.
- Có thể kết hợp trộn thuốc vi sinh BT với thuốc hóa học có bả độc mau phân hủy. Đối với đậu nành rau thì nên theo dõi mật số bướm mới xâm nhập vào ruộng để có thể phun thuốc sớm diệt bướm hoặc sâu non còn cạp ăn ngoài vỏ quả đậu nành non trước khi đục vào trong quả. Nên thật cẩn thận trong việc chọn lọai thuốc và quyết định có nên phun hay không vì đây cũng là loại đậu ăn quả tươi.
- Khi cần thiết, dùng các loại thuốc như MATCH 050EC hoặc PERAN 50EC để phòng trị.
Tên khoa học: Ophiomyia phaseoli Tryon
Họ: Agromyziidae
Bộ: Diptera
Đối tượng gây hại:
+ Ophiomyia phaseoli Tryon: đậu xanh, đậu đũa, cô-ve, trắng, đen..
+ Melanagromyza sojae Zehntner: chỉ cây đậu nành
Loài nầy tấn công khi cây còn rất non, vừa có 2 lá tử diệp đầu tiên, nên dễ làm chết cây con khi có từ 2 con giòi trở lên trong một cây.
Thành trùng là loại ruồi rất nhỏ, màu đen, thường thấy đậu trên lá non vào buổi sáng. Con cái dùng ống nhọn ở cuối bụng để đẻ từng trứng vào trong mỗi lỗ đục trên mặt lá. Trứng nở sau độ 2 ngày. Ấu trùng đục thành đường hầm ngoằn ngoèo trên mặt lá rồi đục qua cuống để vào thân và đục xuống gốc để làm nhộng trong phần vỏ của gốc cây con. Ấu trùng có 3 tuổi và thời gian phát triển làm hại cây đậu lâu độ 7-10 ngày. Nhộng có hình trụ, màu nâu bóng và kéo dài độ 7 ngày.
(41).png)
Thành trùng, nhộng và ấu trùng giòi đục thân đậu Ophiomyia phaseoli Tryon
(Nguồn: http://www.ento.csiro.au/aicn/name_s/b_2936.htm)
Chỉ tấn công cây đậu nành mà thôi. Loài này cũng đẻ trứng trên lá non và ấu trùng nở ra cũng đục ngoằn ngoèo trên phiến lá rồi mới qua cuống để đục vào thân cây. Tuy nhiên, ở trong thân chúng đục ở phần rổng của trụ trung tâm nên không làm chết cây con mà thường chỉ gây chết nhánh non và cây đậu bị chậm phát triển. Nhộng nằm trong phần lõi thân cây đậu nành.
Chu kỳ sinh trưởng cũng tương tự như như giòi Ophiomyia phaseoli Tryon.
(34).png)
Thành trùng, nhộng, triệu chứng thiệt hại của giòi (dòi) đục thân đậu Melanagromyza sojae Zehntner). (Nguồn: Chi cục BVTV An Giang)
Cách phòng trị thông thường là rải thuốc trừ sâu dạng hạt như BASUDIN 10H vào lúc tỉa đậu, chung với phân bón và tro trấu để bảo vệ cây con trong vòng 2 tuần đầu là đủ. Khi cần thiết, có thể phun BASUDIN 50EC để tiêu diệt.
Tên khoa học: Helicoverpa armigera
Họ Ngài Đêm: Noctuidae
Bộ Cánh Vảy: Lepidopera
* Vòng đời: Vòng đời trung bình của sâu xanh từ 28 - 50 ngày
- Trứng: 2-7 ngày
- Sâu non: 14-25 ngày
- Nhộng: 10-14 ngày
- Trưởng thành: 2-5 ngày
.png)
Ấu trùng sâu xanh gây hại bắp, lá đậu, trái cà chua.
(53).png)
Thành trùng, trứng sâu xanh.
(57).png)
Sâu xanh đục quả (Helicoverpa armigera - noctuidae).
Bướm thân dài 18-20mm, sải cánh rộng 30-35mm, màu nâu nhạt, trên cánh trước có các đường vân rộng màu xanh thẵm.
Trứng hình bán cầu, lúc đầu trắng sau chuyển màu nâu, trên bề mặt có nhiều đường gân dọc. Trưởng thành (bướm) đẻ trứng rải rác trên các bộ phận non của cây bông như lá non, nụ... Một con bướm có thể đẻ từ 800-2800 trứng.
Sâu xanh non có màu xanh lá cây, hồng nhạt hoặc nâu thẫm, trên thân có sọc đen mờ, đẫy sức dài 40mm. Nhộng màu nâu, dài 18-20mm, cuối bụng có 2 gai song song.
Sâu trưởng thành chui ra khỏi quả để hóa nhộng trong lớp đầt sâu 5-10cm. Sâu trưởng thành hoạt động vào ban đêm hoặc chiều tối sức bay khỏe và xa và có thể đẻ 1.000 quả trứng, trứng đẻ riêng từng quả, thường ở mặt trên của lá non, nụ hoa và gần quả. Sâu thường xuất hiện nhiều vào giai đoạn cây ra hoa rộ và tạo quả.
Biện pháp phòng trừ sâu xanh hại đậu
+ Thường xuyên quan sát ruộng đậu, nhất là từ sau khi trồng đến 1 tháng tuổi lá chưa giao nhau, để phát hiện ổ trứng và kịp thời ngắt bỏ.
+ Sâu có khả năng kháng thuốc cao nên rất khó trị bằng các lọai thuốc sâu thông thường. Nên bắt sâu bằng tay kết hợp với việc phun thuốc, đặc biệt là lọai gốc cúc tổng hợp (Pyrethroids) vì có biệt tính cao lại mau phân hủy trong đất. Loài sâu này thường hay bị một loại siêu vi khuẩn (vi rút) thuộc nhóm NPV tấn công ở ngoài đồng.
+ Tránh trồng xen canh với bắp, cà chua, thuốc lá vì đều là cây ký chủ của chúng. Sau mỗi vụ nên xới đất rồi phơi ải một thời gian để diệt nhộng của sâu còn ẩn lại trong đất.
+ Khi cần thiết, dùng các loại thuốc như SAUTIU 1,8 và 3,6EC, ANITOX 50SC, ACE 5EC, CAGENT 5SC và 800WP để phòng trị. Các loại thuốc mới thuộc gốc sinh học như MUSKARDIN (nấm Beauveria bassiana), Emamectin, Spinosad, Spinetoram.
Tên khoa học: Spodoptera exigua
Họ Ngài Đêm: Noctuidae
Bộ Cánh Vảy: Lepidopera
(63).png)
Vòng đời sâu xanh da láng.
Hình dạng rất giống sâu xanh nhưng nhỏ hơn (dài 10-15 mm), da xanh lục với 2 sọc vàng nâu chạy dọc 2 bên thân mình, không có u gai trên lưng như sâu xanh. Bướm nhỏ hơn, màu nâu và có 1 đốm vàng ờ giữa cánh rất đặc sắc. Bướm cũng đẻ trứng ban đêm trên lá nhưng thành từng ổ từ 20-30 trứng có phủ lông trắng do chùm lông ở cuối bụng của con cái. Chu kỳ sinh trưởng của sâu ngắn hơn 1 tháng, ngắn hơn nhiều so với sâu xanh hay các loài sâu khác cùng họ Noctuidae. Có lẽ vì vậy mà sâu phát triển và gia tăng mật số rất nhanh, lây lan rất dễ vì chúng cũng ăn cả ớt, hành, cà chua, bắp... và kháng thuốc rất mạnh.
(68).png)
Thành trùng sâu xanh da láng Spodoptera exigua Hübner, ấu trùng sâu xanh da láng Spodoptera exigua Hübner gây hại lá hành.
Tuổi 1: Thân sâu có màu xanh lá cây hay vàng xanh, đầu đen bóng, mang nhiều lông, bụng màu vàng nhạt. Trên lưng có nhiều chấm to màu nâu nhạt, thời gian phát triển của sâu ở tuổi này từ 2-5 ngày.
Từ tuổi 2: Bụng màu vàng xanh, các đốt trên thân phân biệt rõ dần. Mình sâu có 3 sọc màu trắng mờ, một sọc giữa lưng và 2 sọc ở hai bên thân. Thời gian phát triển của sâu tuổi 2 từ 2-4 ngày.
Tuổi 3: Có màu vàng xanh, sau chuyển sang màu xanh lá cây. Đầu màu vàng nhạt, bóng, vẫn còn mang nhiều lông. Thời gian phát triển của sâu ở tuổi này từ 2-3 ngày.
Từ tuổi 4 trở đi các vạch trên cơ thể sâu rõ dần, cơ thể có màu xanh nhạt dễ lẫn với màu của cọng tỏi.
Ngài đẻ trứng thành từng ổ trên lá. Một ngài cái có thể đẻ 300-400 trứng.
Sâu non tuổi 1 tập trung gây hại xung quanh ổ trứng, đến cuối tuổi 1 sâu mới phát tán sang các lá khác. Khi lớn sâu phân tán dần. Sâu non tuổi 2 có tập quán nhả tơ buông mình khi có động. Ở tuổi 3 sâu cắn phá mạnh nhất, có thể cắn thủng lá làm lá bị gục héo.
Sâu thường gây hại mạnh vào các tháng ít mưa hoặc ruộng khô hạn.
Sâu có đặc tính kháng thuốc nên rất khó phòng trị bằng thuốc hóa học.
Cũng áp dụng chiến lược tương tự như đối với sâu xanh:
+ Thăm đồng thường xuyên, phát hiện sớm ổ trứng và ngắt bỏ
+ Bắt sâu non bằng tay khi sâu còn nhỏ sống tập trung
+ Luân canh tỏi với lúa nước để diệt nhộng sâu trong đất
+ Cày ải diệt sâu, nhộng. Trồng mật độ thích hợp.
+ Vệ sinh đồng ruộng sau thu hoạch
+ Bảo vệ các loài thiên địch của sâu hại như ong, ruồi ký sinh bằng cách hạn chế sử dụng thuốc hóa học hoặc chỉ dùng khi mật độ sâu quá cao.
+ Sử dụng các chế phẩm nấm (như nấm lục cương, nấm bạch cương); Chế vi khuẩn BT để phun. Các loại chế phẩm này nên phun thuốc vào các buổi chiều mát.
Sử dụng thuốc hóa học: Chú ý khi sử dụng thuốc hoá học trừ sâu xanh da láng
Trong ngày nên phun thuốc vào lúc sáng sớm hoặc chiều tối.
Khi điều tra thấy sâu non mới nở hoặc còn nhỏ sống tập trung là thời điểm phun thuốc tốt nhất
Sâu non từ tuổi lớn có tính kháng thuốc mạnh vì vậy cần sử dụng luân phiên các loại thuốc, cụ thể:
Lần 1: Atabron 5EC
Lần 2: Cascade 5EC + Mimic 20F
Lần 3: Dipel 3.2WP + Cascade 5EC
Lần 4: Mimic 20F + SeNPV
Lần 5: Dipel 3.2 WP + SeNPV
- Sâu gia tăng mật số nhanh hơn và kháng thuốc cũng mạnh hơn; nên chú ý kiểm tra kỹ khi cây đậu còn non để có thể bắt sâu hoặc ổ trứng hay nếu cần thì phun thuốc ngăn chặn kịp thời không cho bộc phát mật số, nhất là trong vụ Xuân - Hè là mùa có mật số sâu cao nhất.
- Vào cuối vụ Xuân - Hè thì mật số của các lòai thiên địch thường tăng cao như nấm ký sinh, vi rút NPV, ong kén trắng... Do đó nên hạn chế sử dụng thuốc sâu vào lúc này để bảo vệ chúng.
Tên khoa học: Lamprosema indicata
Họ: Pyralidaee
Bộ: Lepidoptera
Đối tượng cây trồng bị hại: Đậu nành, ngoài ra còn một số cây đậu khác.
Đặc điểm hình thái sâu cuốn lá Lamprosema indicata hại đậu nành
(66).png)
Thành trùng (Bướm, ngài) Lamprosema indicata hại đậu nành
+ Thành trùng: Thành trùng Lamprosema indicata là 1 loài ngài sáng giống sâu cuốn lá như trên lúa, kích thước nhỏ hơn dìm cánh không đen, cánh trước có 3 đường vân dài cắt ngang cánh, cánh sau có 2 đường vân.
+ Trứng: Trứng loài Lamprosema indicata màu hồng nhạt, đẻ rời rạc trên các phần thân của cây.
(58).png)
Sâu cuốn lá Lamprosema indicata hại đậu nành
+ Ấu trùng: Có màu nâu nhạt, đầu màu nâu.
Tập quán sinh hoạt và gây hại của sâu cuốn lá Lamprosema indicata hại đậu nành:
Thành trùng hoạt động mạnh vào chiều tối, thích ánh sáng đèn. Thông thường đẻ trứng ở mặt dưới lá non.
(65).png)
Lá đậu nành bị phá hại
Sâu cuốn lá rất phổ biến ở các vùng trồng đậu nành. Sâu phá hại lá bánh tẻ từ giai đoạn cây con cho đến khi có quả non. Sâu non lúc nhỏ gặm ở mặt dưới của lá. Từ tuổi 3, sâu non bắt đầu nhả tơ cuốn gập lá hoặc gập 2 lá lại với nhau, trong 1 cuốn lá có 1 con, sâu non ở bên trong gây hại lá, ăn từng mảng chừa gân. Sâu phá hỏng và làm giảm diện tích quang hợp của cây.
Biện pháp phòng trị sâu cuốn lá Lamprosema indicata hại đậu nành:
- Làm bung lá trước khi phun thuốc.
- Dùng các thuốc thông dụng.
Tên khoa học: Nezara viridula, Piezodorus rubrofasciatus
+ Bọ xít xanh: Nezara viridula
+ Bọ xít xanh vai vàng: Piezodorus rubrofasciatus
Họ: Pentatomidae
Bộ: Hemiptera
Đối tượng bị gây hại: Cam, quýt, chanh, thanh long, lúa, đậu và một số cây trồng khác.
+ Cây ăn trái: Trái nhỏ khi bị bọ xít hại trái sẽ chuyển màu vàng, chai cứng và rụng sau đó. Nếu trái lớn bị hại, trái có thể bị thối do bội nhiễm nấm hoặc một số vi sinh vật khác.
+ Lúa: Khi bị bọ xít hại, hạt lúa sẽ lửng lép hoặc bạc trắng, giảm năng suất.
- Bọ xít xanh Nezara viridula Linnaeus
(66).png)
Thành trùng có hình ngũ giác, màu xanh lục sáng, dài khoảng 12mm. Hai bên góc vai có 2 chấm đen nhỏ, râu đầu 5 đốt với 2 đốt cuối màu đỏ nâu và to hơn các đốt chân râu. Bàn chân có 3 đốt, phủ nhiều lông tơ. Thành trùng sống lâu 1-2 tháng.
Trứng hình trụ tròn, màu vàng sáng, chuyển sang màu đỏ trước khi nở. Trứng đẻ thành khối xếp nhiều hàng ở mặt dưới phiến lá. Trứng nở trong vòng 5-7 ngày.
Ấu trùng có 5 tuổi, phát triển từ 18-28 ngày với kích thước và màu sắc thay đổi: Tuổi 1 sống tập trung, tuổi 2 bắt đầu phân tán và có màu đỏ nâu, tuổi 3 chuyển dần sang màu xanh lục, tuổi 4 và 5 có màu xanh lục với mầm cánh phát triển.
- Bọ xít xanh vai vàng Piezodorus rubrofasciatus Fabricius.
(63).png)
Bọ xít xanh vai vàng đang bắt cặp (Nguồn: Chi cục BVTV An Giang)
Thành trùng có hình dạng tương tự như bọ xít xanh nhưng có một băng vàng vắt ngang ở phần trước của ngực. Vòng đời cũng tương tự như N. viridula.
(65).png)
* Vòng đời: Khoảng 65-70 ngày
+ Giai đoạn trứng: 5-7 ngày (mùa đông 14-21 ngày).
+ Giai đoạn sâu non: 20-30 ngày.
+ Giai đoạn trưởng thành: sống nhiều tháng.
Bọ xít trưởng thành hoạt động giao phối vào ban ngày, lúc 9-10 giờ sáng, trứng được đẻ thành từng ổ, mỗi ổ trứng có từ 30-130 trứng; mỗi con cái đẻ từ 50-500 trứng. Bọ xít trưởng thành có tập tính qua đông và qua đông trong vỏ cây, tàn dư lá cây hoặc những khu vực khác. Mùa xuân đến, nhiệt độ ấm lên, bọ xít xanh chui ra khỏi nơi ẩn nấp, phá hại và đẻ trứng. Con cái có thể bắt đầu đẻ sau khi hoá trưởng thành 3-4 tuần. Bọ xít trưởng thành thích ánh sáng đèn. Trưởng thành có thể di chuyển xa với khoảng cách hàng cây số.
Điều kiện phát sinh của bọ xít xanh: Về mùa: mùa Xuân và Hè Thu; về vụ: vụ Mùa sớm và Xuân muộn. Ruộng lúa gần ruộng rau thì bị hại nặng hơn, bọ xít xanh thường di cư hàng loạt từ ruộng rau sang ruộng lúa vì phổ gây hại của bọ xít xanh rất rộng, nó có thể hại hầu hết các loại cây trồng từ cây lương thực, thực phẩm đến các cây nông nghiệp ngắn, dài ngày. Bọ xít xanh hại trên lúa, làm cho lúa bị lép lửng. Bọ xít xanh xuất hiện tại khắp các vùng ở Việt Nam và thế giới.
- Phát hiện sớm, diệt các ổ bọ xít xanh mới nở, vợt bắt con trưởng thành.
- Nên trồng sớm họăc đồng lọat, luân canh với các cây khác không cùng ký chủ. Sử dụng thuốc hóa học nên lưu ý dến sự lưu bả độc trên trái đậu rau.
- Sử dụng các loại thuốc hóa học lưu dẫn, có vị độc, tiếp xúc như Ofatox 400EC, Fastac 5EC, Padan 95 SP, Cyperan 5EC/10EC hoặc 25EC, Bassan 50EC, Sumicidin 10 hoặc 20EC, BIAN 40EC để phòng trị....
Tên khoa học: Plathypena scabra
Tên tiếng Anh: Green Cloverworm
Họ Ngài Đêm: Noctuidae
Bộ Cánh Vải: Lepidopera
Đối tượng cây trồng gây hại: Cây họ đậu, bông thuốc lá và các loại rau.
(59).png)
Sâu và ngài sâu xanh Plathypena scabra (F) hại đậu nành và 1 số cây trồng khác.
Khi trưởng thành sâu non dài 2-3cm, màu xanh với sọc trắng nhạt ở hại bên cạnh. Sau khi giai đoạn sâu non kết thúc giai đoạn nhộng xảy ra trên hoặc ngay dưới mặt đất, hoặc dưới tàn dư cây. Đôi khi nhộng dính vào cây bằng một vài sợi tơ mùa hè giai đoạn nhộng kéo dài khoảng 10 ngày, bướm màu ghi nâu xuất hiện và sau khoảng 7 ngày đẻ trứng trên hai mặt lá đậu, trứng nở sau 5 ngày. Sâu sống qua đông dưới dạng nhộng hoặc sâu trưởng thành. Tuỳ thuộc vào khí hậu, màu vụ có thể có 4 thế hệ trong một năm.
Ở giai đoạn cây non, côn trùng có ích (thiên địch) và các bệnh nấm có thể làm giảm một số lượng lớn sâu bướm trước khi được phun thuốc trừ sâu. Ở giai đoạn sinh trưởng mạnh của cây đậu nành, diện tích lá bị phá hại lớn hơn diện tích lá cây tự đền bù ở cuối giai đoạn sinh trưởng. Tuy nhiên, nếu sâu phá hại mạnh và không được kiểm soát sẽ gây hại nặng nề và làm giảm đáng kể năng suất.
Tên khoa học: Aphis medicaginis Koch
- Trưởng thành có 2 loại hình: Rệp có cánh và rệp không cánh.
- Rệp muội có cánh: cơ thể màu đen xanh hay vàng.
- Rệp muội không cánh: cơ thể màu tím xám hay đen. Ở vùng nhiệt đới rệp đẻ con.
(58).png)
Hình ảnh rệp muội hại cây lạc Aphis medicaginis Koch (đậu phộng), đậu nành.
- Thời gian gây hại cây lạc từ tháng 3 sau chuyển sang phá rau vụ Hè rồi cây lạc Thu.
- Nhiệt độ thích hợp cho rệp muội phát sinh là 10-24oC. Lượng mưa và thời gian mưa kéo dài 7-8 ngày làm số lượng rệp giảm xuống nhanh chóng.
- Rệp muội tập trung trên lá non, ngọn, hoa, hút dịch cây làm cho thân, lá có màu đen. Do bị hút dịch, lá lạc thường cuốn lại, co hẹp không bình thường, hoa nhỏ ảnh hưởng tới sự nở hoa, thụ tinh làm sản lượng lạc bị giảm 30% hay nhiều hơn nữa.
- Dùng Fipronil 800 WG lượng 40g, trộn với 40-50kg đất bột hoặc Diazinon 10H lượng 3kg trộn với 7,5kg đất bột hoặc 1,5% Rơgo lượng 0,5kg trộn với 15kg đất bột, mỗi hecta dùng 750kg hỗn hợp trên.
- Dùng thuốc Padan 95SP, Regent 800WG theo liều lượng trên bao bì.
Tên khoa học: Aphis Craccivora Koch, Aphis Glycines Matsumura
Họ: Aphididae
Bộ: Homopera
Gọi là rệp đậu vì đây là lọai rầy mềm không cánh. Có 2 lòai phổ biến và khác nhau về cây ký chủ:
- Aphis craccivora Koch: Rất phổ biến, tấn công đọt và trái non của hầu hết các lọai đậu - đặc biệt là đậu xanh, đậu đũa và cô-ve. Rệp đậu còn non có màu tím, khi trưởng thành có màu đen bóng, cũng không có cánh và đẻ thẳng ra con nên mật số có thể gia tăng rất nhanh, gây hại mau chóng. Chỉ khi nào hết thức ăn, mật số quá đông hoặc bị thiên địch tấn công nặng... chúng mới phát sinh dạng thành trùng có cánh để di chuyển đi tìm nguồn thức ăn mới.
(56).png)
Thành trùng, ấu trùng rệp đậu, rầy mềm (Nguồn: NSW Agriculture), quần thể rầy mềm trên trái (Nguồn: Trần Thị Ba, ĐHCT).
- Aphis glycines Matsumura: Cơ thể màu xanh lục vàng, ngực và đầu có màu đen hay xanh lục đậm, bụng màu nhạt, dài từ 1,7-2,0mm, rộng từ 0,7-0,9mm. Râu màu trắng bẩn nhưng các đốt roi râu màu nâu đen, ngắn hơn cơ thể. Vòi chích hút kéo dài vượt khỏi đốt chậu chân giữa. Ống bụng màu nâu. Dạng không cánh có cơ thể màu vàng xanh đến vàng tươi, 2 mắt đen, râu ngắn hơn 1/2 thân mình và có màu trắng giống như chân, dài từ 1,5-2,0mm, rộng từ 0,7-1,2mm. Các đặc điểm khác đều giống như dạng có cánh.
- Chúng hút nhựa và thải phân lỏng còn chứa rất nhiều đường nên thường quyến rủ kiến đến ăn và bảo vệ chúng khỏi bị thiên địch tấn công. Điều nguy hiểm là chúng có thể truyền bệnh Khảm vàng làm cho lá đậu co rúm và cây không ra trái.
(59).png)
Thành trùng rệp đậu, rầy mềm (Nguồn: NSW Agriculture) và triệu chứng (Nguồn: University of Wisconsin).
Rệp đậu, rầy mềm thường thấy bu thành đám quanh đọt hoặc bông và trái non để chích hút làm cho đọt bị quắn, bông bị rụng và trái bị lép.
Thường không phải phòng trừ gì cả vì chúng có rất nhiều thiên địch như các lòai bọ rùa, kiến sư tử (Chrysopidae, Neuroptera), các lòai giòi thuộc họ Syrphidae (Diptera)... Để ngăn ngừa việc truyền bệnh vi rút thì nên trồng sớm hoặc tìm cách lọai trừ cây bị bệnh.
Khi cần thiết, dùng các loại thuốc như ACTARA 25WG để phòng trị.
Tên khoa học: Cerotoma trifurcata
Họ: Chrysomelidae
Bộ: Coleoptera
Đặc tính sinh học của bọ cánh cứng (bọ lá đậu/sâu ăn lá đậu) Cerotoma trifurcata:
Bọ cánh cứng và virus đốm quả đều là hai loại dịch hại ảnh hưởng lớn đến cây đậu nành.
(62).png)
Hình 1. Bọ cánh cứng với màu sắc biến đổi dần từ màu cam sang màu đỏ sang cam và vàng nhạt.
+ Thành trùng: Thành trùng biến từ màu đỏ sang màu cam sang màu vàng nhạt (Hình 1).
Thường các thành trùng có bốn đốm đen vuông vức trên cánh, tuy nhiên cũng có trường hợp cánh của bọ cánh cứng có hai hoặc không có ô màu đen hay được phủ một vệt to màu đen. Một tam giác màu đen, gọi là lớp vảy, thường có sau gáy của bọ cánh cứng (Hình 2). Bất kể các côn trùng có bốn, hai, hoặc không có màu đen "ô vuông" trên cánh, bọ cánh cứng cái hay có mặt màu đen, trong khi những con bọ cánh cứng đực thường có mặt màu xám.
(57).png)
Hình 2. Thành trùng bọ cánh cứng Cerotoma trifurcata luôn luôn có điểm nhận dạng là có 1 hình tam giác đen ở vị trí A, hầu hết cũng có 4 hình vuông ở vị trí B, và một vành đen trên vị trí C ở cánh.
+ Trứng: Trứng Bọ cánh cứng hình quả chanh và có màu cam và chúng được tìm thấy trong đất quanh gốc cây đậu nành. Ngoài ra, trứng của bọ cánh cứng trong đất ướt hoặc ẩm ướt nhiều hơn trong đất khô. Trứng bọ lá đậu mất một tuần để nở ở (ở nhiệt độ 28°C). Đất quá ẩm hoặc quá khô đều có thể làm hỏng trứng hoặc ảnh ưởng đến quá trình nở của trứng. Trứng bọ lá đậu thích hợp với đất hữu cơ hơn so với cát pha sét và sét pha cát. Bọ cánh cứng ăn ấu trùng trong đất trên rễ đậu nành và nốt sần. Ấu trùng phát triển qua ba giai đoạn trước khi thành nhộng trong đất. Ấu trùng có khả năng di chuyển trong đất và trong điều kiện đất khô có thể di chuyển lên đến 30cm mỗi giờ để tìm kiếm độ ẩm thích hợp. Các loại đất có thức ăn cho ảnh hưởng đến khả năng sống sót của ấu trùng. Trong điều kiện đất ẩm, ấu trùng sống sót tốt nhất trong đất hữu cơ (0-4% tỷ lệ chết) so với cát pha sét (87-100% tỷ lệ chết) và thịt pha cát sét (0 -20% tỷ lệ chết).
+ Ấu trùng: Khi ấu trùng (sâu lá đậu) đầu tiên lên khỏi mặt đất, mình rất mềm và cơ thể thường là màu be màu (Hình. 2).
(60).png)
Hình 3. Ấu trùng (sâu) bọ lá đậu khi mới lên khỏi mặt đất.
Ấu trùng dưới mặt đất phát triển dài ra giống con sâu, mình màu trắng đến màu be, đầu hai đầu màu nâu sẫm (Hình 3). Màu nâu sẫm đến từ sclerotization đầu của ấu trùng và phân khúc bụng trước. Ấu trùng có thể phát triển đến 10mm, hình trụ tương tự sâu hại rễ ngô (Diabrotica spp.) Ấu trùng. Các nhộng có màu trắng, Ϸ 5mm, và kèm theo trong tế bào bằng đất. Họ bọ lá đậu có nhiều ký chủ lớn, chủ yếu là trên các cây họ đậu bao gồm cỏ ba lá (Trifolium spp.) và đậu nành .
Đặc điểm sinh học và gây hại của bọ cánh cứng (bọ lá đậu/sâu ăn lá đậu) Cerotoma trifurcata:
Bọ lá đậu (Bọ cánh cứng) Cerotoma trifurcata (F ̈rster) là một dịch hại của cây đậu nành. Thành trùng (bọ cánh cứng) ăn lá mầm, lá và vỏ quả, trong khi thức ăn ấu trùng (sâu) trên các nốt đậu nành gắn vào rễ. Hơn nữa, bọ lá đậu cũng truyền virus đốm quả, một loại virus phổ biến của đậu nành. Bọ lá đậu có thể được tìm thấy ở các vùng trồng đậu nành lớn.
Những con bọ cánh cứng giao phối và phân tán cho nhiều trên các cây như: cỏ linh lăng (Medicago sativa L.) và các loại đậu khác như đánh dấu cây chĩa ba (Desmodium spp.) và cỏ ba lá.
Bọ lá đậu trưởng thành bay đến ruộng đậu nành, thực vật yêu thích của bọ cánh cứng (Hình 5 và 6). Bọ lá đậu cái bay tới vùng trồng đậu nành và mang trứng (tức là, giao phối và mang trứng) đặt thành các cụm nhỏ của trứng trong vòng 3,8cm bề mặt đất và trong vòng 5,1cm bán kính của cây đậu nành. Mỗi con cái đẻ 130-200 trứng trong suốt cuộc đời của nó.
Khi được lựa chọn, bọ cánh cứng cái ưa thích đẻ trứng trong đất hữu cơ hơn là đất sét pha cát hoặc cát pha sét.
(61).png)
Hình 4. Qua mùa đông bọ cánh cứng mới nổi từ đất hình thành thế hệ đầu tiên của thành trùng trong một năm nhất định. Tùy thuộc vào thời gian của sự mọc và các giai đoạn phát triển đậu nành, bọ trưởng thành có thể giao phối một lần nữa và đẻ trứng.
(57).png)
Hình 5. Lá đậu bị phá hại do thành trùng bọ cánh cứng Cerotoma trifurcata ăn.
Ấu trùng bọ lá ăn nốt rễ đậu nành, đậu sẽ đền bù cho ăn ấu trùng bằng cách phát triển các nốt bổ sung. Tuy nhiên, nếu sự phá hoại của ấu trùng nặng nề (19 ấu trùng trên cây) có thể gây ra nốt sần nhỏ hơn và giảm bớt lá và vỏ nitơ.
Thiệt hại kinh tế do ấu trùng ăn nốt sần thì không xác định tuy nhiên chúng ta có thể thấy rõ thành trùng phát triển ăn các bộ phận trên mặt đất của đậu nành như lá mầm, lá và vỏ quả (Hình 4 - 8).
Thành trùng có thể ăn bắt đầu ở cạnh lá hay ở giữa của lá thành lỗ tròn trong các mô giữa gân lá.
(52).png)
Hình 6. Lá đậu bị phá hại do thành trùng bọ cánh cứng Cerotoma trifurcata ăn.
Ảnh hưởng của thức ăn của bọ lá đậu phụ thuộc vào giai đoạn phát triển của cây. Một một con bọ ăn lá đậu nành trong giai đoạn sinh dưỡng 14 ngày được ước tính tiêu thụ lên đến 13,93cm2 diện tích của lá. Việc phá hại của bọ lá đậu thường làm giảm năng suất từ 12% hoặc hơn như thế.
(54).png)
Hình 7. Bọ lá đậu Cerotoma trifurcata phá hại quả đậu nành.
Trong thời gian đậu nành hình thành quả, làm đầy hạt, bọ cánh cứng có thể ăn trên bề mặt vỏ quả đậu. Các vết ăn trên bề mặt vỏ quả đậu là nguyên nhân dẫn đến nhiễm trùng thứ cấp do vi khuẩn và nấm, các lỗ sẹo của vỏ đậu nành dẫn đến độ ẩm của hạt bị thừa. Các hạt trên quả bị hại có thể trở nên teo tóp, mất màu và mốc (Hình 8).
(60).png)
Hình 8. Hạt đậu trên quả đậu bị hại có thể bị teo tóp hoặc mất màu và mốc.
Viện Khoa Học Kỹ Thuật Nông Nghiệp Miền Nam
Địa chỉ: 121 Nguyễn Bỉnh Khiêm, P. Tân Định, TP.HCM
Điện thoại: 028. 38234076 – 38228371
Website : http://iasvn.org - Email: iasvn@vnn.vn