Chào mừng Quý độc giả đến với trang thông tin điện tử của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam

Tin nổi bật
Thành tích

Huân chương Ðộc lập

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Huân chương Lao động

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Giải thưởng Nhà nước

- Nghiên cứu dinh dưởng và thức ăn gia súc (2005)

- Nghiên cứu chọn tạo và phát triển giống lúa mới cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa (2005)

Giải thưởng VIFOTEC

- Giống ngô lai đơn V2002 (2003)

- Kỹ thuật ghép cà chua chống bệnh héo rũ vi khuẩn (2005)

- Giống Sắn KM 140 (2010)

Trung tâm
Liên kết website
lịch việt
Thư viện ảnh
Video
Thiết lập chuỗi giá trị nông sản thông minh và an toàn tại Việt Nam Cà chua bi

Thống kê truy cập
 Đang trực tuyến :  24
 Số lượt truy cập :  33193076
Vai trò của nông nghiệp hữu cơ trong việc giảm thiểu biến đổi khí hậu
Thứ tư, 15-07-2015 | 09:23:57

Ngoài lợi ích thông thường của nông nghiệp hữu cơ như bảo vệ sức khỏe, môi trường, báo cáo của Liên minh Quốc tế Phong trào Nông nghiệp Hữu cơ (IFOAM) cho rằng Nông nghiệp hữu cơ còn có vai trò giảm nhẹ biến đổi khí hậu. Chúng ta xem xét những vấn đề liên quan sau đây:

 

Đã có bằng chứng mạnh mẽ rằng các hiệu ứng khí nhà kính chịu trách nhiệm cho việc nóng lên toàn cầu và biến đổi khí hậu. Từ đó đưa ra giải pháp quan trọng nhất đối với việc nóng lên toàn cầu là giảm rõ rệt việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch.

 

Một nghiên cứu được ủy thác bởi tổ chức IFOAM cho thấy tiềm năng của nông nghiệp hữu cơ có cả hai khía cạnh là tránh và cô lập khí nhà kính (Greenhouse Gases - GHG) và so sánh với nông nghiệp truyền thống. Qua đó, mô tả bằng cách nào nông nghiệp hữu cơ có thể xem xét trong cơ chế thực hiện Nghị định thư Kyoto. Nghiên cứu này cho rằng nông nghiệp hữu cơ có thể giữ một vai trò vừa giảm thiểu phát tán GHG và loại bỏ cácbon.

 

Trước hết, ta tìm hiểu vai trò của nông nghiệp trong việc làm biến đổi khí hậu

 

Nông nghiệp là một thành phần chịu trách nhiệm đóng góp chủ yếu đối vào phát thải khí mêtan (CH4), nitơ oxyt (N2O), và cacbon điôxyt (CO2). Trên mức độ toàn cầu, việc sử dụng đất nông nghiệp trong những năm 1990 đã và đang chịu trách nhiệm cho khoảng 15% GHG phát thải. Một phần ba của cácbon điôxýt phát thải đến từ việc thay đổi sử dụng đất (như phá rừng, chuyển đổi canh tác, và thâm canh trong nông nghiệp). Ước khoảng 2/3 lượng khí mêtan và hầu hết khí nitơ ôxýt phát thải có nguồn gốc từ nông nghiệp.

 

Ở cùng thời gian, nông nghiệp cũng cho cơ hội lựa chọn để giảm GHG có ý nghĩa. Một là giảm phát thải, và vì thế, giảm thiểu sự sản xuất CO2, CH4 và N2O vào khí quyển. Nông nghiệp chia sẻ tiềm năng giảm phát thải này với công nghiệp và các bộ phận khác. Sự lựa chọn thứ hai bao gồm việc cô lập có hệ thống cacbon điôxýt trong đất và trong sinh khối cây trồng. Đó là kiểu độc nhất trong tất cả các loại hình sử dụng đất.

 

Tiềm năng giảm thiểu phát thải của nông nghiệp hữu cơ

 

Nông nghiệp hữu cơ có thể giảm phát thải khí cácbon điôxýt một cách có ý nghĩa. Khi một sự thay đổi có thể thực hiện để chuyển đổi canh tác, nó cho ra những hệ thống canh tác cây trồng bền vững đối với việc duy trì năng suất. Vì với nông nghiệp hữu cơ, nó sử dụng ít nhiên liệu hóa thạch có ý nghĩa so với nông nghiệp truyền thống. Đây là do các yếu tố sau:

 

- Độ màu mỡ đất được duy trì chủ yếu bằng những đầu vào bên trong nông trại (như phân hữu cơ, sản xuất cây họ đậu, luân canh cây trồng rộng lớn,v.v…)

- Các loại phân bón tổng hợp nhu cầu cao năng lượng và thuốc hóa học bảo vệ cây trồng bị từ chối đối với sản xuất hữu cơ, và

- Thức ăn động vật bên ngoài – thường vận chuyển xa – được giới hạn đến mức thấp nhất.

 

Kết quả là, các biến đổi hữu cơ có sự cân đối thâm sâu về năng lượng được thuận lợi hơn. Tuy nhiên, có những lý do cho nông dân hữu cơ nỗ lực hơn để giảm sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch và có những lý do để chú ý vào việc sử dụng năng lượng hợp lý trong hệ thống phân phối lương thực.  

 

Trong sự tránh sinh ra mêtan, nông nghiệp hữu cơ có đóng góp quan trọng, một là không chỉ làm giảm mêtan mà thông qua sự kích thích vi sinh vật hảo khí và hoạt động sinh học cao trong đất, làm cho sự oxy hóa của mêtan có thể gia tăng. Thứ hai, thay đổi trong việc ăn uống của động vật nhai lại (khi áp dụng phương pháp chăn nuôi hữu cơ) có thể giảm việc sản sinh mêtan có ý nghĩa. Song, nghiên cứu kỹ thuật về giảm mêtan trong ruộng lúa – một nguồn quan trọng của sản xuất mêtan – là còn đang mới mẽ.  

 

Nitơ ôxýt chủ yếu do bón liều lượng đạm quá nhiều và thất thoát đạm. Những vấn đề vày được giảm có ý nghĩa trong nông nghiệp hữu cơ bởi vì:

 

- Không sử dụng phân bón đạm tổng hợp, như vậy rõ ràng giảm lượng đạm tổng số và giảm phát thải gây ra trong quá trình nhu cầu năng lượng để tổng hợp phân bón.

- Sản xuất nông nghiệp hữu cơ trong một chu kỳ dinh dưỡng kín nhằm giảm thiểu thất thoát.

- Mức độ dự trử thức ăn động vật được hạn chế. Chúng được liên kết với các khu vực đất có sẵn và do đó tránh được việc sản xuất và ứng dụng phân chuồng quá mức.

- Khẩu phần ăn của bò sữa là protein sẽ thấp hơn và chất sợi sẽ cao hơn , dẫn đến giá trị phát thải thấp hơn.

- Sử dụng sinh khối để thay thế cho nhiên liệu hóa thạch cũng cho thấy một sự lựa chọn giảm phát thải.

 

Rõ ràng nông nghiệp hữu cơ có vị trí cao trong việc giảm phát thải. Nó có ưu điểm mà nông nghiệp vô cơ dùng đạm không áp dụng được, làm cho phát thải nhiều N2O và sử dụng nhiều năng lượng.

 

Tiềm năng cô lập mêtan của nông nghiệp hữu cơ

 

Nông nghiệp hữu cơ có tiềm năng cô lập đặc biệt mêtan vì nó theo nguyên lý chủ đạo về chu kỳ năng lượng và dinh dưỡng thông qua quản lý vật chất hữu cơ trong đất. Điều này đạt được thông qua cải thiện thực hành canh tác trong quản lý đất trồng và trong lâm nghiệp.  

 

Nhiều nghiên cứu dài hạn cung cấp bằng chứng rằng, việc thường xuyên cung cấp vật chất hữu cơ cho đất là cách duy nhất để duy trì và gia tăng cácbon hữu cơ trong đất (SOC). Sự phát triển có hệ thống và áp dụng kỹ thuật phân bón hữu cơ đã là một lĩnh vực quan trọng của nông nghiệp hữu cơ trong nhiều thập kỷ và các kết quả nổi bật đạt được cho đến nay bao gồm các vấn đề chủ yếu sau đây:

 

- Tối ưu hóa số lượng và kỹ thuật áp dụng phân hữu cơ. Một sự kết hợp chặt chẽ giữa sản xuất cây trồng và ngành chăn nuôi động vật và hệ thống tái sản xuất chất thải hữu cơ là những yếu tố cơ bản.

- Cải thiện công nghệ chế biến chất thải hữu cơ để đạt được các loại phân bón hữu cơ chất lượng cao. Thông qua việc phối trộn chất thải động vật và thực vật thất thoát trong quá trình hình thành mùn được giảm thiểu và một tỷ lệ mùn rắn cao được thu hoạch.

 

Luân canh dài hạn và đa dạng cây trồng và cây họ đậu là một đặc điểm quan trọng khác của nông nghiệp hữu cơ đã giúp gia tăng SOC.

 

Trong nông nghiệp truyền thống, việc canh tác bảo tồn được khuyến khích rộng rãi như một giải pháp để cô lập cácbon điôxýt. Kỹ thuật này kết hợp với làm đất tối thiểu cộng với trồng cây che phủ hữu cơ, thuốc diệt cỏ và thường cây trồng GMO (biến đổi gen) kháng thuốc diệt cỏ. Cả hai giải pháp cuối là bị cấm trong nông nghiệp hữu cơ.

 

Kết quả nghiên cứu gần đây cho rằng sự đạt được về SOC (soil organic carbon) cao hơn dự đoán và là một phần hoặc hoàn toàn đền bù bởi gia tăng N2O phát thải. Như vậy có thể kết luận rằng làm đất tối thiểu kết hợp với phân khoáng vô cơ so sánh kém hơn với nông nghiệp hữu cơ nếu sự chú ý tập trung về GHGs nói chung hơn là chú ý việc cô lập cácbon riêng lẻ. Nhiệm vụ của nông nghiệp hữu cơ sẽ là tổng hợp làm đất bảo tồn trong một phương cách mà các ảnh hưởng xấu đã được phòng tránh.

 

Nông lâm  nghiệp – một hệ thống quản lý mà tổng hợp cây trồng trong một môi trường nông nghiệp – là một công nghệ khác mà áp dụng một cách có hệ thống trong nông nghiệp hữu cơ. Nó là một phương pháp khả thi để hệ thống canh tác chuyển đổi thành công nhưng cũng cải thiện và gia tăng giá trị cho cây trồng thu nhập thấp. Nông lâm nghiệp giữ tiềm năng lớn nhất về cô lập cácbon trong các nước nhiệt đới.

 

Điều đáng chú ý là việc cô lập cácbon, tức là, sự gia tăng của vật chất hữu cơ của đất cũng dẫn đến đất màu mỡ hơn, khả năng giữ nước tốt hơn và giảm rò rỉ chất dinh dưỡng.

 

TS. Ngyễn Công Thành.

 

(Theo Organic Farming and Climate Change. International Trade Centre UNCTAD/WTO

Research Institute of Organic Agriculture (FiBL), 2007.)

Trở lại      In      Số lần xem: 4091

[ Tin tức liên quan ]___________________________________________________
  • Hơn 120 quốc gia ký kết Hiệp ước Paris về biến đổi khí hậu
  • Một số giống đậu tương mới và mô hình chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất lúa tại Đông Nam Bộ và Đồng Bằng Sông Cửu Long
  • Các nước cam kết chống biến đổi khí hậu
  • 12 giống hoa được công nhận bản quyền
  • Thảo luận việc quản lý nước theo cơ chế thị trường
  • Lượng nước ngầm trên Trái đất đạt 23 triệu kilômét khối
  • Sản xuất hồ tiêu thế giới: Hiện trạng và Triển vọng
  • Triển vọng tích cực cho nguồn cung ngũ cốc toàn cầu năm 2016
  • Cây trồng biến đổi gen với hai tỷ ha (1996-2015); nông dân hưởng lợi >150 tỷ usd trong 20 năm qua
  • Cơ hội cho gạo Việt
  • Việt Nam sẽ áp dụng cam kết TPP cho thêm 40 nước
  • El Nino có thể chấm dứt vào cuối tháng 6
  • Chi phí-hiệu quả của các chương trình bệnh động vật "không rõ ràng"
  • Xuất khẩu hồ tiêu: Gậy ông đập lưng ông
  • Đất có thể đóng vai trò quan trọng trong việc giảm lượng khí nhà kính
  • Quản lý và phát triển thương hiệu gạo Việt Nam
  • Những cách nổi bật để giải quyết những thách thức về hệ thống lương thực toàn cầu
  • Lập bản đồ các hộ nông dân trồng trọt trên toàn thế giới
  • Hỗ trợ chuyển đổi từ trồng lúa sang trồng ngô
  • Nếu không được kiểm soát, cỏ dại sẽ gây thiệt hại kinh tế tới hàng tỷ USD mỗi năm
Designed & Powered by WEBSO CO.,LTD