Chào mừng Quý độc giả đến với trang thông tin điện tử của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam

Tin nổi bật
Thành tích

Huân chương Ðộc lập

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Huân chương Lao động

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Giải thưởng Nhà nước

- Nghiên cứu dinh dưởng và thức ăn gia súc (2005)

- Nghiên cứu chọn tạo và phát triển giống lúa mới cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa (2005)

Giải thưởng VIFOTEC

- Giống ngô lai đơn V2002 (2003)

- Kỹ thuật ghép cà chua chống bệnh héo rũ vi khuẩn (2005)

- Giống Sắn KM 140 (2010)

Trung tâm
Liên kết website
lịch việt
Thư viện ảnh
Video
Trung Tâm NC Khoai tây, Rau và Hoa, trồng rau Hàn Quốc theo VietGap

Thống kê truy cập
 Đang trực tuyến :  14
 Số lượt truy cập :  29624275
Sự biến đổi di truyền ở đậu tương (Glycine max) được phát hiện bằng các phương pháp tiếp cận đa biến đối với các đặc điểm hình thái và khả năng kháng virus khảm đậu tương
Thứ hai, 08-08-2022 | 08:19:45

Haris Khurshid(1,2), Doulat Baig(1), Nazakat Nawaz(1), Malik Ashiq Rabbani(3) và Zabta Khan Shinwari(2)

 

TÓM TẮT

 

Cải thiện năng suất hạt đậu tương và khả năng kháng bệnh vẫn là mục tiêu hàng đầu của các nhà chọn giống. Mục đích này đã đạt được bằng cách khảo sát sự biến đổi độc đáo và khác biệt trong các nguồn gen đa dạng của cây trồng để nâng cao mức độ biểu hiện của các tính trạng quan trọng về mặt kinh tế. Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã sử dụng chiến lược định hướng đa dạng bằng cách sử dụng mười ba bộ mô tả định lượng và định tính cho một bộ 110 giống đậu tương địa phương và du nhập để làm sáng tỏ cấu trúc quần thể của nó. Thí nghiệm đã được trồng trong hai năm liên tiếp ở Kharif 2016–2017 trong thiết kế hàng 5m cho mỗi giống trong khi ô được bao bọc bởi các dòng bông và đậu xanh nhạy cảm với virus. Dữ liệu được ghi lại trên năm cây đại diện từ mỗi hàng và phản ứng của virus khảm đậu tương được chấm theo thang điểm từ 0–9, về mặt kiểu hình. Quy trình đa biến của phân tích thành phần chính cho thấy 51% sự thay đổi trong hai thành phần chính đầu tiên. Các eigenvector cao hơn đã được vẽ trên biểu đồ của biến số ngày cho đến khi bắt đầu ra hoa, số ngày ra hoa đến 50%, số quả/cây, chiều cao cây, năng suất hạt và khối lượng một trăm hạt cho thấy sự biến đổi. Chúng tôi đã quan sát thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa khả năng kháng bệnh, hàm lượng dầu và năng suất hạt cao hơn. Phân tích phân nhóm dựa trên bản đồ nhiệt được thực hiện bằng cách sử dụng khoảng cách Euclide, phân loại tất cả các giống nghiên cứu thành năm nhóm chính do mối quan hệ về hình thái nông học và địa lý. Tổng cộng có 47 giống được xác định là kháng, tiếp theo là 22 giống kháng cao và 23 giống kháng trung bình. Chúng tôi kết luận rằng tồn tại đủ sự biến đổi di truyền đối với các đặc điểm liên quan đến năng suất trong mầm đậu tương có sẵn, có thể được sử dụng trong các chương trình chọn giống để phát triển chồi non với năng suất hạt cao hơn và khả năng kháng virus khảm đậu tương.

 

Chi tiết xin xem tệp đính kèm!


1 Chương trình Nghiên cứu Hạt có dầu, Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp Quốc gia, Islamabad, Pakistan

2 Khoa Công nghệ Sinh học, Đại học Quaid-i-Azam Islamabad, Pakistan

3 Viện Bảo tồn Năng lượng sinh học, Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp Quốc gia, Islamabad, Pakistan

 

Võ Như Cầm biên dịch.

 

Trở lại      Tải file      In      Số lần xem: 70

[ Tin tức liên quan ]___________________________________________________
  • Nghiên cứu đa dạng di truyền vi khuẩn Ralstonia solanacearum Smith gây bệnh héo xanh hại lạc và xác định các dòng, giống kháng bệnh ở một số tỉnh miền Bắc Việt Nam ( Thứ hai, 25/04/2016 )
  • Bệnh rỉ sắt đậu nành ( Thứ năm, 01/05/2014 )
  • Nghiên cứu vai trò của các yếu tố phiên mã đáp ứng auxin (GmARF) ở đậu tương và strigolactone ở arabidopsis trong chịu hạn và mặn ( Thứ tư, 20/07/2016 )
  • Sử dụng phương pháp nuôi cấy trên lá trong chọn giống đậu tương kháng Cercospora Kikuchii ( Thứ bảy, 15/01/2022 )
  • Lập bản đồ locus tính trạng số lượng về tính chịu ngập úng ở giai đoạn đầu của quần thể dòng tái tổ hợp đậu tương ( Thứ ba, 14/12/2021 )
  • Lập bản đồ qũy tích các tính trạng số lượng về khả năng chịu hạn trong quần thể dòng lai tái tổ hợp đậu tương ( Thứ năm, 09/12/2021 )
  • Lập bản đồ QTL và phân tích gen ứng cử viên cho tính chống chịu tách quả ở đậu tương (GLYCINE MAX) ( Thứ hai, 06/12/2021 )
  • Xác định QTL cho khả năng chống chịu với ngập úng ở giai đoạn cây con của đậu tương (Glycine max L. MERR.) ( Thứ năm, 02/12/2021 )
  • Phân tích các gen biểu hiện khác biệt trong mô lá đậu tương của các giống chống chịu và mẫn cảm với ngập úng đã biểu hiện bằng cách giải trình tự RNA ( Thứ hai, 29/11/2021 )
  • Nghiên cứu tuổi thọ của hạt đậu tương hoang dại, đậu tương trồng và các dòng lai tái tổ hợp (RILS) ( Thứ hai, 29/11/2021 )
  • Phân tích biến dị di truyền ở dạng và số trái đậu nành bằng phương pháp đường viên ( Thứ năm, 01/05/2014 )
  • Chọn tạo giống đậu tương biến đổi gen kháng sâu ở Việt Nam ( Thứ năm, 01/05/2014 )
  • Hiệu quả chủng vi khuẩn cố định đạm (Sinorhizobium fredii) và hòa tan lân (Pseudomonas stutzeri) dạng lỏng đối với đậu nành trồng trên nền đất lúa ở ĐBSCL ( Thứ năm, 01/05/2014 )
  • Sản xuất và đánh giá chế phẩm vi sinh đối kháng phòng bệnh héo xanh lạc, vừng ( Thứ tư, 17/02/2016 )
  • Nghiên cứu chọn tạo giống lạc, đậu tương cho các tỉnh phía Bắc ( Thứ năm, 24/09/2015 )
  • Cây đậu đỗ ở các tỉnh phía Nam - Thực trạng và định hướng phát triển ( Chủ nhật, 15/11/2015 )
  • Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật quản lý sâu cuốn lá hại Lạc vụ xuân 2013, tại xã Hải Lĩnh, huyện Tỉnh Gia, tỉnh Thanh Hóa ( Thứ hai, 07/03/2016 )
  • Đánh giá tác động của nano kim loại (sắt, đồng, coban) đến giống đậu tương HLĐN 29 ở Đồng Nai ( Thứ tư, 16/09/2020 )
  • Ảnh hưởng của thời gian gây úng đến sinh trưởng, sinh lý và năng suất của đậu xanh trong điều kiện nhà lưới ( Thứ ba, 22/09/2020 )
  • Phân tích vai trò của gốc methionine trong cấu trúc họ nhân tố phiên mã ở đậu tương ( Thứ tư, 23/09/2020 )
Designed & Powered by WEBSO CO.,LTD