Chào mừng Quý độc giả đến với trang thông tin điện tử của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam

Tin nổi bật
Thành tích

Huân chương Ðộc lập

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Huân chương Lao động

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Giải thưởng Nhà nước

- Nghiên cứu dinh dưởng và thức ăn gia súc (2005)

- Nghiên cứu chọn tạo và phát triển giống lúa mới cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa (2005)

Giải thưởng VIFOTEC

- Giống ngô lai đơn V2002 (2003)

- Kỹ thuật ghép cà chua chống bệnh héo rũ vi khuẩn (2005)

- Giống Sắn KM 140 (2010)

Trung tâm
Liên kết website
lịch việt
Thư viện ảnh
Video
Trung Tâm NC Khoai tây, Rau và Hoa, trồng rau Hàn Quốc theo VietGap

Thống kê truy cập
 Đang trực tuyến :  6
 Số lượt truy cập :  26680613
Phản ứng của đậu nành đối với phân bón
Thứ hai, 29-10-2018 | 09:29:07

Phản ứng của cây đậu nành với ni tơ (đạm):

Cây đậu nành là cây có nhu cầu phân đạm thấp, bởi đậu nành có khả năng cố định lượng đạm rất lớn từ khí quyển. Tuy nhiên đậu nành vẫn cần sử dụng đạm từ đất và phân bón. Nhiều nghiên cứu cho thấy bón đạm trước khi gieo có ảnh hưởng xấu tới quá trình cố định nitơ.

 

Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy số nốt sần trên cây đậu tỷ lệ nghịch với tỷ lệ phân đạm ở lúc gieo, nếu bón 56 kg/ha phân đạm, số nốt sần trên cây bị giảm, nhưng nếu bón 112 kg/ha ở giai đoạn cây ra hoa số nốt sần không bị ảnh hưởng (Nathanson và cs, 1984).

 

Cũng không nên cho rằng với bất kỳ lượng đạm nào ở trong vùng rễ cây cũng sẽ ảnh hưởng xấu tới hình thành nốt sần. Mà thực ra, thí nghiệm trong phòng trồng trong chậu cát hoặc trong chậu dung dịch đã chứng tỏ rằng ở giai đoạn đầu sinh trưởng của đậu nành vẫn cần một lượng đạm nhỏ ở trong đất hoặc do phân bón, ngay cả khi có lây nhiễm vi khuẩn hợp lý.

 

Cây đậu nành phản ứng ít đối với phân đạm, tuy nhiên phân đạm vẫn làm tăng năng suất, khối lượng hạt, tỷ lệ đạm trong hạt và hàm lượng protein. Việc tăng năng suất và tỷ lệ đạm trong hạt khi bón thêm đạm chứng tỏ cố định nitơ không đủ để cung cấp cho cây.

 

Phản ứng của đậu nành đối với phân đạm có liên quan với lượng NO3 dư thừa trong vùng rễ. Khi NO3 dư thừa trong vùng rễ thấp, phân đạm đã tăng năng suất đậu. Đa số những nghiên cứu về ảnh hưởng của phân đạm đối với sản xuất đậu nành được tiến hành ở độ sâu đất 15-30cm, đây cũng là vùng rễ có nhiều nốt sần nhất. Harper và Cooper (1971) công bố phân N ở nồng độ 150 mg/kg dưới 30cm không có tác dụng kìm hãm sự hình thành nốt sần (Ngô Thế Dân và cs, 1999).  

Phản ứng của cây đậu nành với photpho (phân lân):

Kết quả nghiên cứu cho thấy ảnh hưởng của yếu tố này tới sinh trưởng của đậu nành khá rõ ràng. Phốt pho đóng vai trò quan trọng đối với phát triển nốt sần ở đậu nành (Trần Văn Điền, 2001). Các thí nghiệm trong chậu cho thấy nốt sần hình thành tối đa ở mức photpho (lân) bón 400-500 mg/kg, với hoạt tính tối đa của nó, nó yêu cầu photpho còn cao hơn. Tuy nhiên, bón nhiều photpho (lân) cũng gây ra nhiều vấn đề. Sự hấp thụ photpho và phản ứng đối với phân photpho cũng bị ảnh hưởng bởi độ ẩm đất. Ở điều kiện thiếu nước, sự hút photpho của cây giảm. Sau khi tưới cho cây đã bị khô dài hạn, nó sẽ hút photpho ở tỷ lệ cao hơn so với cây được tưới ở mức nước thích hợp.

Phản ứng của cây đậu nành với kali:

Đậu nành sau khi thu hoạch lấy đi một khối lượng lớn kali từ đất. Vì vậy, các nghiên cứu cho rằng đậu nành có phản ứng với phân kali. Terman (1977) thấy rằng lượng chất khô và sự hấp thụ dinh dưỡng tối đa ở giai đoạn đầu hình thành quả (trong Ngô Thế Dân và cs, 1999). Nồng độ K trong lá, đỉnh sinh trưởng và hạt tăng cùng tỷ lệ Kali bón vào.  

 

Cũng như P, K rất cần cho sự phát triển của nốt sần. De Mooy và Pesek ( 1966) từ kết quả thí nghiệm trong chậu, họ tuyên bố rằng sự hình thành nốt sần tối đa khi bón K ở lượng 600-800 mg/kg (trong Ngô Thế Dân và cs, 1999). 

Đỗ Ánh (1965) cho thấy đối với đậu nành tỷ lệ Ca: P: K tối thích là 2,0: 1,0: 1,5. Đậu nành có thể hấp thụ photpho (lân) của các photphat khó tan AlPO4, FePO4.

Phản ứng của cây đậu nành với lưu huỳnh (S):  

Nhìn chung, đậu nành có nhu cầu cao với lưu huỳnh (S), vì vậy bón thêm lưu huỳnh (S) sẽ tăng năng suất đậu. Thí nghiệm trong chậu cho thấy dinh dưỡng lưu huỳnh (S) của đậu nành có thể bị ảnh hưởng bởi nồng độ các chất dinh dưỡng khác.

 

Dinh dưỡng lưu huỳnh (S) có liên quan chặt chẽ với dinh dưỡng nitơ (N) ở cây đậu. Các kết quả thí nghiệm cho thấy sinh trưởng và năng suất của cây đậu biến đổi nhiều với phân S. Chẳng hạn bón S trên đất cát vùng biển đã tăng năng suất của một vài loại cây trồng. Tuy nhiên, không thấy hiệu quả của phân lưu huỳnh (S) đối với đậu nành trên cùng loại đất đó. Dựa trên tất cả các kết quả nghiên cứu cho tới nay, phản ứng của đậu nành với lưu huỳnh (S) rất hạn chế.

Phản ứng của cây đậu nành với canxi (vôi):

Trên nền đất chua, vôi là yếu tố quan trọng giúp cho việc sản xuất đậu nành được thành công. Bón vôi nhằm:  

- Giảm nồng độ của các chất độc chẳng hạn như: H, Al, Mn  

 

- Cung cấp dinh dưỡng cho cây: Ca, Mg, Mo.  

 

- Cải tiến và tăng cường sự hình thành nốt sần và cố định đạm. Ở đất chua bón sunphat và KCl muộn mà không bón vôi, nốt sần sẽ kém phát triển (Đỗ Ánh, 1965).  

 

Bón vôi trên đất chua tăng lượng Ca hấp thụ trong dung dịch đất. Tuy nhiên lượng Ca tăng ít có ảnh hưởng tới sinh trưởng của cây đậu nành nhất là ở đất trồng đậu ít khi bị thiếu Ca. Thực ra trong nhiều trường hợp đất chua, bón thêm lượng Ca hoà tan vào hoặc muối Ca hoặc Mg sẽ tăng Al trong dung dịch đất và vì vậy nó có thể kìm hãm sự sinh trưởng của cây. Lund (1970) công bố rằng nồng độ của Ca trong dung dịch 0,05 mg/l là phù hợp cho rễ sinh trưởng ở đất có pH = 5,6 (trong Ngô Thế Dân và cs, 1999).  

Phản ứng của cây đậu nành với các nguyên tố vi lượng:

Tầm quan trọng của các nguyên tố vi lượng thường có liên quan đến đặc tính đất (Lê Văn Tri, 2002). pH có ảnh hưởng tới nhu cầu của đậu nành đối với một số nguyên tố vi lượng. Trên đất giàu Ca có hiện tượng thiếu Fe. Bón phân trên lá có thể bổ sung sự thiếu hụt này. Mn cũng rất cần cho cây đậu nành. Bón theo hàng MnSO4 cho hiệu quả cao hơn bón rải. Bón trên lá cho hiệu quả cao nhất nếu bón ở giai đoạn bắt đầu ra hoa hoặc hình thành quả, hoặc bón ở cả hai giai đoạn này. Bón Monoamonium photphat hoặc Diamonium photphat sẽ hạn chế thiếu Mn. Giảm pH đất do hai loại phân này là yếu tố cơ bản dẫn tới tăng lượng Mn sẵn có trong đất.  

 

Khi pH đất ở phạm vi 5,8-6,7, xử lý hạt với Mo làm tăng năng suất đậu. Martins và cộng sự (1974) cho thấy đậu nành tương đối chịu được lượng B, Cu và Zn bón liều cao. Thí nghiệm trong 5 năm liền bón 3,3 kg/ha B và 11,1 kg/ha Zn đã không có ảnh hưởng xấu tới năng suất đậu (Ngô Thế Dân và cs, 1999).

Độ độc của nhôm (Al) đối với cây đậu nành:

Độ độc của nhôm làm cây đậu nành nhạy cảm hơn đối với khô hạn và giảm khả năng tích luỹ P, Ca, Mg, K, Fe và N. Quá trình đầu tiên bị ảnh hưởng bởi Al là sự kéo dài tế bào ở rễ, sự phân chia tế bào ở chóp rễ, có thể do hình thành những hợp chất phức tạp với axit nucleic trong quá trình phân bào giảm nhiễm. Vấn đề đó dẫn đến sự sản sinh ra những rễ phụ không có lông hút để hút nước và dinh dưỡng. Ở nồng độ Al cao, số nốt sần cũng bị giảm.  

 

Độ độc của Al thường xảy ra ở chân đất chua với tỷ lệ nhôm trao đổi cao. Bón vôi có thể giảm Al trao đổi ở tầng đất cày, nhưng ở bên dưới cũng còn nhiều khó khăn. Như vậy hiệu quả của việc khai thác nước và dinh dưỡng ở tầng đất dưới bị hạn chế do đô độc của nhôm.  

 

Để giảm độ độc của Al, một chiến lược quan trọng là thay đổi thành phần hoá học đất tức là giảm lượng nhôm trao đổi ở tầng đất dưới hoặc chọn giống có tính chịu đựng cao, trong hai phương pháp đó, chọn giống là phương pháp dễ tiến hành hơn. Sự chịu đựng của cây đối với độ độc Al mang tính di truyền.  

Độ độc do Mangan (Mn) đối với cây đậu nành:

Dấu hiệu đầu tiên của độ độc Mn là biến dạng lá. Nhìn chung, dấu hiệu của nó bao gồm lá quăn, vàng và những mô bị chết ở trên lá. Sinh trưởng và năng suất của cây bị giảm do độ độc Mn lá vì quang hợp bị gián đoạn, thông qua những rối loạn sinh hoá hoặc do giảm diện tích lá qua phân chia và sinh trưởng tế bào giảm.

 

Độ độc do Mn thường xảy ra trên đất axit, nhưng nó còn phụ thuộc vào nhiệt độ, ở nhiệt độ thấp cây dễ bị ảnh hưởng của Mn hơn ở nhiệt độ cao. Chẳng hạn mức Mn ở trong dung dịch gây ra độc ở nhiệt độ 200C sẽ không gây độc cho cây đậu nành ở nhiệt độ từ 28–310C. Tuy nhiên nồng độ của Mn trong lá ở điều kiện nhiệt độ cao lại không khác với nồng độ ở nhiệt độ lạnh. Như vậy ảnh hưởng của nhiệt độ đối với sự nhạy cảm Mn gây độc không trực tiếp liên quan đến sự hấp thụ và tích luỹ Mn trong cây.  

 

Với lượng Mn bón cao, nồng độ Mn trong lá thường tăng với tuổi của lá và trong cùng ngày lấy mẫu, lá non thường có tỷ lệ cao hơn lá già. Điều này chứng tỏ giai đoạn phân chia và sinh trưởng tế bào có nhạy cảm với độ độc Mn nhất. Độ độc có liên quan tới giống và nhiệt độ trong thời kỳ sinh trưởng.

Trở lại      In      Số lần xem: 842

[ Tin tức liên quan ]___________________________________________________
  • Gen sinh tổng hợp Aflatoxin trong hạt điều ( Thứ hai, 09/05/2016 )
  • Đa dạng di truyền xét trên trình tự gen của loài sắn hoang dại và giống sắn trồng. ( Thứ hai, 30/05/2016 )
  • Kết quả nghiên cứu về cây trụ tiêu ( Thứ năm, 05/05/2016 )
  • Bệnh hại phụ ( Thứ tư, 20/04/2016 )
  • Nguồn gốc và lịch sử phát triển ( Thứ hai, 03/03/2014 )
  • Sản xuất Sắn trên thế giới & Việt Nam ( Thứ hai, 03/03/2014 )
  • Sinh trưởng và phát triển ( Thứ hai, 03/03/2014 )
  • Đặt tính thực vật học của Sắn ( Thứ hai, 03/03/2014 )
  • Đặc điểm rễ và củ sắn ( Thứ hai, 03/03/2014 )
  • Đặc điểm thân ( Thứ hai, 03/03/2014 )
  • Đặc điểm Lá ( Thứ hai, 03/03/2014 )
  • Đặc điểm Hoa và quả sắn ( Thứ hai, 03/03/2014 )
  • Vai trò của Sắn ( Thứ hai, 03/03/2014 )
  • Sắn phục vụ sinh hoạt ( Thứ hai, 03/03/2014 )
  • Giải trình tự bộ Gen của Sắn ( Thứ hai, 03/03/2014 )
  • Đất và thời vụ trồng sắn ở Việt Nam ( Thứ hai, 03/03/2014 )
  • Điều kiện sinh thái ( Thứ hai, 03/03/2014 )
  • Tình hình sản xuất và tiêu thụ Điều trên thế giới ( Thứ ba, 19/04/2016 )
  • Tình hình sản xuất và tiêu thụ điều ở Việt Nam ( Thứ ba, 19/04/2016 )
  • Thành tựu nghiên cứu và tiềm năng phát triển cây điều ở việt nam ( Thứ ba, 19/04/2016 )
Designed & Powered by WEBSO CO.,LTD