Chào mừng Quý độc giả đến với trang thông tin điện tử của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam

Tin nổi bật
Thành tích

Huân chương Ðộc lập

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Huân chương Lao động

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Giải thưởng Nhà nước

- Nghiên cứu dinh dưởng và thức ăn gia súc (2005)

- Nghiên cứu chọn tạo và phát triển giống lúa mới cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa (2005)

Giải thưởng VIFOTEC

- Giống ngô lai đơn V2002 (2003)

- Kỹ thuật ghép cà chua chống bệnh héo rũ vi khuẩn (2005)

- Giống Sắn KM 140 (2010)

Trung tâm
Liên kết website
lịch việt
Thư viện ảnh
Video
Triển vọng giống đậu nành HLĐN910 trên đất trồng tiêu

Thống kê truy cập
 Đang trực tuyến :  32
 Số lượt truy cập :  21813468
Giảm một số chất gây ô nhiễm sẽ làm chậm sự gia tăng mực nước biển
Thứ bảy, 20-04-2013 | 23:38:27

Nghiên cứu gần đây cho thấy rằng việc cắt giảm khí thải của một số chất gây ô nhiễm có thể làm chậm đáng kể sự tăng mực nước biển vào thế kỷ này.

 


 

Nhóm nghiên cứu nhận thấy rằng việc giảm 4 chất ô nhiễm gây có vòng đời khá ngắn trong khí quyển có thể tạm thời ngăn chặn tốc độ tăng mực nước biển từ 25-50%.

“Để tránh sự gia tăng mực nước biển có khả năng gây nguy hiểm, chúng ta có thể cắt giảm khí thải của các chất gây ô nhiễm trong ngắn hạn thậm chí nếu chúng ta không thể cắt giảm khí thải CO2 ngay lập tức”, Aixue Hu đến từ Trung tâm Nghiên cứu Khí quyển Quốc gia cho biết. “Nghiên cứu mới này cho thấy rằng xã hội có thể giảm đáng kể mối đe dọa cho các thành phố ven biển nếu nhanh chóng loại bỏ một số chất gây ô nhiễm”.

“Bằng cách giữ ổn định mật độ CO2 trong khí quyển và giảm khí thải các chất ô nhiễm ngắn hạn thì vẫn không quá trễ để giảm tốc độ nóng lên của khí hậu toàn cầu và giảm sự gia tăng mực nước biển”, Veerabhadran Ramanathan cho biết.

Bảo vệ bờ biển

Sự tác động của việc gia tăng mực nước biển đối với các khu vực dân cư là một trong những ảnh hưởng đáng quan tâm nhất của sự biến đổi khí hậu. Nhiều thành phố lớn trên thế giới, như New York, Miami, Amsterdam, Mumbai và Tokyo, đều nằm ở những khu vực thấp hơn so với mực nước.

Khi các sông băng và dải băng tan chảy, và các đại dương nóng lên được mở rộng thì mực nước biển tăng trung bình khoảng 3mm mỗi năm trong những năm trở lại đây. Nếu khí hậu tiếp tục nóng lên thì mực nước biển dự kiến sẽ tăng từ 18-59cm vào thế kỷ này, đó là đánh giá vào năm 2007 của Ban Liên Chính phủ về Biến đổi Khí hậu. Tuy nhiên, một số khoa học gia cảm thấy những ước tính đó vẫn còn dè dặt.

Một sự gia tăng như thể có thể gây ngập lụt nhiều cộng đồng dân cư ven biển, đặc biệt khi sóng bão ập đến.

Mặc dù những nguy cơ này, các nhà hoạch định chính sách cũng không thể tán thành các thủ tục làm giảm khí thải CO2. Ghi nhớ điều này, nhóm nghiên cứu đã tập trung vào khí thải của 4 chất ô nhiễm giữ nhiệt khác, đó là metan, ozon tầng đối lưu, hydrofluorocarbon và mồ hóng. Những khí và hạt này tồn tại bất kỳ nơi đâu, từ 1 tuần cho đến cả chục năm trong khí quyển, và chúng có thể gây ảnh hưởng cho khí hậu nhanh hơn CO2.

Nghiên cứu trước đây của Ramanathan và Yangyang Xu đã cho thấy rằng, đến năm 2050, việc giảm mạnh khí thải của những chất ô nhiễm ngắn hạn này bắt đầu từ năm 2015 có thể bù trừ đến 50% cho sự nóng lên của khí hậu.

Áp dụng việc cắt giảm các khí thải đó cho sự gia tăng mực nước biển, nghiên cứu này nhận thấy rằng việc cắt giảm này có thể làm chậm quá trình tăng mực nước biển một cách đáng kể. Các kết quả nghiên cứu này cho thấy rằng sự gia tăng mực nước biển tổng thể ước tính sẽ giảm từ 22-42% đến năm 2100, tùy thuộc vào phạm vi giảm các khí thải này.

Tuy nhiên, nghiên cứu này cũng nhận thấy rằng sự trì hoãn việc cắt giảm các khí thải này đến năm 2040 sẽ làm giảm khoảng 1/3 tác động có lợi đối với sự gia tăng mực nước biển so với năm 2100.

Nếu xã hội có thể giảm cả khí thải CO2 lẫn 4 chất ô nhiễm này thì sự gia tăng mực nước biển tổng thể sẽ giảm ít nhất 30% đến năm 2100, đó là kết luận của các nghiên cứu gia.

Dostdongnai theo Science Daily.

Trở lại      In      Số lần xem: 936

[ Tin tức liên quan ]___________________________________________________
  • Bản đồ di truyền và chỉ thị phân tử trong trường hợp gen kháng phổ rộng bệnh đạo ôn của cậy lúa, GEN Pi65(t), thông qua kỹ thuật NGS
  • Bản đồ QTL chống chịu mặn của cây lúa thông qua phân tích quần thể phân ly trồng dồn của các dòng con lai tái tổ hợp bằng 50k SNP CHIP
  • Tuần tin khoa học 479 (16-22/05/2016)
  • Áp dụng huỳnh quang để nghiên cứu diễn biến sự chết tế bào cây lúa khi nó bị nhiễm nấm gây bệnh đạo ôn Magnaporthe oryzae
  • Vai trò của phân hữu cơ chế biến trong việc nâng cao năng năng suất và hiệu quả kinh tế cho một số cây ngắn ngày trên đất xám đông Nam Bộ
  • Tuần tin khoa học 475 (18-24/04/2016)
  • Vi nhân giống cây măng tây (Asparagus officinalis L.)
  • Thiết lập cách cải thiện sản lượng sắn
  • Nghiên cứu xây dựng hệ thống dự báo, cảnh báo hạn hán cho Việt Nam với thời hạn đến 3 tháng
  • Liệu thủ phạm chính gây nóng lên toàn cầu có giúp ích được cho cây trồng?
  • Tuần tin khoa học 478 (09-15/05/2016)
  • Sinh vật đơn bào có khả năng học hỏi
  • Côn trùng có thể tìm ra cây nhiễm virus
  • Bản đồ QTL liên quan đến tính trạng nông học thông qua quần thể magic từ các dòng lúa indica được tuyển chọn
  • Nghiên cứu khẳng định số loài sinh vật trên trái đất nhiều hơn số sao trong giải ngân hà chúng ta
  • Cơ chế di truyền và hóa sinh về tính kháng rầy nâu của cây lúa
  • Vật liệu bọc thực phẩm ăn được, bảo quản trái cây tươi hơn 7 ngày mà không cần tủ lạnh
  • Giống đậu nành chống chịu mặn có GEN gmst1 làm giảm sự sinh ra ROS, tăng cường độ nhạy với ABA, và chống chịu STRESS phi sinh học của cây Arabidopsis thaliana
  • Khám phá hệ giác quan cảm nhận độ ẩm không khí ở côn trùng
  • Phương pháp bền vững để phát triển cây lương thực nhờ các hạt nano
Designed & Powered by WEBSO CO.,LTD