Chào mừng Quý độc giả đến với trang thông tin điện tử của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam

Tin nổi bật
Thành tích

Huân chương Ðộc lập

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Huân chương Lao động

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Giải thưởng Nhà nước

- Nghiên cứu dinh dưởng và thức ăn gia súc (2005)

- Nghiên cứu chọn tạo và phát triển giống lúa mới cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa (2005)

Giải thưởng VIFOTEC

- Giống ngô lai đơn V2002 (2003)

- Kỹ thuật ghép cà chua chống bệnh héo rũ vi khuẩn (2005)

- Giống Sắn KM 140 (2010)

Trung tâm
Liên kết website
lịch việt
Thư viện ảnh
Video
Thiết lập chuỗi giá trị nông sản thông minh và an toàn tại Việt Nam Cà chua bi

Thống kê truy cập
 Đang trực tuyến :  22
 Số lượt truy cập :  34003653
Cải thiện tần suất biến nạp ở cây ngô
Thứ sáu, 05-07-2024 | 08:36:18

Ngô là một trong những sinh vật mẫu truyền thống cho nghiên cứu di truyền. Tuy nhiên, tần số biến đổi thấp vẫn là trở ngại quan trọng đối với nhiều ứng dụng chỉnh sửa gen.

 

Các nhà nghiên cứu tại Trung tâm Sinh học Hệ thống Thực vật VIB-UGent đã có những bước tiến đáng kể trong việc khắc phục tình trạng tắc nghẽn này. Bằng cách tận dụng sự kết hợp giữa các vector ba thành phần và các chất điều hòa hình thái, họ đã tăng cường đáng kể hiệu quả chuyển đổi, mở đường cho các nghiên cứu hiệu quả hơn và các ứng dụng sáng tạo.

 

Nghiên cứu của họ được công bố trên tạp chí The Plant Journal.

 

Thành viên nhóm nghiên cứu, từ trái sang phải: Laurens Pauwels, Stijn Aesaert, Wout Vandeputte, và Griet Coussens.

 

Giải quyết nút thắt chuyển đổi

 

Ngô (Zea mays L.) là một loại cây trồng rất quan trọng trên toàn cầu cho các ứng dụng nông nghiệp và công nghiệp, nhưng cũng là một sinh vật mẫu quan trọng trong nghiên cứu di truyền. Theo truyền thống, chỉnh sửa gen ở ngô dựa vào quá trình chuyển đổi do Agrobacterium làm trung gian. Tuy nhiên, tần suất chuyển đổi thấp ở loài này tạo ra một nút thắt trong nghiên cứu di truyền, bao gồm các kỹ thuật bộ gen mới (NGT).

 

Một nhóm nghiên cứu từ Trung tâm Sinh học Hệ thống Thực vật VIB-UGent cùng với một cộng tác viên tại Đại học California tại Davis ở Hoa Kỳ đã giải quyết nút thắt này trên hai mặt trận. Họ đã đưa thêm một plasmid hỗ trợ vào Agrobacterium, tăng khả năng chuyển DNA của nó vào tế bào ngô. Ngoài ra, họ đã sử dụng các chimera GRF-GIF, một loại chất điều hòa hình thái, để tăng khả năng tái sinh các tế bào đã biến đổi thành thực vật. Kết hợp các công nghệ này, số lượng thực vật đã biến đổi mà họ có thể tạo ra đã tăng lên tới 20 lần.

 

"Tăng tần số biến đổi là mục tiêu của nhiều nhóm nghiên cứu trên toàn thế giới. Tuy nhiên, các kết quả được công bố trước đó thường chỉ dựa trên thử nghiệm một lần. Ở đây, chúng tôi đã đánh giá các phương pháp của mình qua nhiều năm, các thử nghiệm và người vận hành. Điều này mang lại cho chúng tôi một cơ hội có nền tảng khoa học vững chắc để triển khai những phát hiện của chúng tôi trong nghiên cứu sâu hơn”, Laurens Pauwels, trưởng nhóm tại trung tâm Sinh học Hệ thống Thực vật VIB-UGent cho biết.

 

Ý nghĩa cho tương lai

 

Nghiên cứu được thực hiện trên dòng ngô thuần có tên B104. Mặc dù dòng này thường được sử dụng trong nghiên cứu nhưng nó mang lại lợi ích kinh tế hạn chế cho ngành nông nghiệp ở Bỉ. Dòng thuần không phù hợp lắm với điều kiện trồng trọt ở địa phương và nông dân thường sử dụng các dòng lai.

 

Các nhà nghiên cứu hiện đang hướng tới việc chuyển đổi các dòng ngô thuần chủng. Mục tiêu cuối cùng là thu thập kiến ​​thức để tạo ra các giống lai mới có hiệu quả về mặt nông học và mang lại lợi ích kinh tế cho nông dân địa phương nhưng khó chuyển đổi bằng các phương pháp cũ.

 

"Trọng tâm tiếp theo của chúng tôi sẽ là ứng dụng trên đồng ruộng. Nếu chúng tôi có thể biến đổi các dòng ngô thuần trở nên thú vị hơn đối với nông dân, chúng tôi có thể tạo ra các cây lai thú vị hơn. Đây có thể là điểm khởi đầu để sử dụng NGT hiệu quả hơn trong nông nghiệp", Wout Vandeputte, tác giả chính và là nghiên cưu sinh tại Trung tâm Sinh học Hệ thống Thực vật VIB-Ugent cho biết.

 

Nguyễn Thị Quỳnh Thuận theo Phys.org

Trở lại      In      Số lần xem: 91

[ Tin tức liên quan ]___________________________________________________
  • Bản đồ di truyền và chỉ thị phân tử trong trường hợp gen kháng phổ rộng bệnh đạo ôn của cây lúa, GEN Pi65(t), thông qua kỹ thuật NGS
  • Bản đồ QTL chống chịu mặn của cây lúa thông qua phân tích quần thể phân ly trồng dồn của các dòng con lai tái tổ hợp bằng 50k SNP CHIP
  • Tuần tin khoa học 479 (16-22/05/2016)
  • Áp dụng huỳnh quang để nghiên cứu diễn biến sự chết tế bào cây lúa khi nó bị nhiễm nấm gây bệnh đạo ôn Magnaporthe oryzae
  • Vai trò của phân hữu cơ chế biến trong việc nâng cao năng năng suất và hiệu quả kinh tế cho một số cây ngắn ngày trên đất xám đông Nam Bộ
  • Tuần tin khoa học 475 (18-24/04/2016)
  • Vi nhân giống cây măng tây (Asparagus officinalis L.)
  • Thiết lập cách cải thiện sản lượng sắn
  • Nghiên cứu xây dựng hệ thống dự báo, cảnh báo hạn hán cho Việt Nam với thời hạn đến 3 tháng
  • Liệu thủ phạm chính gây nóng lên toàn cầu có giúp ích được cho cây trồng?
  • Tuần tin khoa học 478 (09-15/05/2016)
  • Sinh vật đơn bào có khả năng học hỏi
  • Côn trùng có thể tìm ra cây nhiễm virus
  • Bản đồ QTL liên quan đến tính trạng nông học thông qua quần thể magic từ các dòng lúa indica được tuyển chọn
  • Nghiên cứu khẳng định số loài sinh vật trên trái đất nhiều hơn số sao trong giải ngân hà chúng ta
  • Cơ chế di truyền và hóa sinh về tính kháng rầy nâu của cây lúa
  • Vật liệu bọc thực phẩm ăn được, bảo quản trái cây tươi hơn 7 ngày mà không cần tủ lạnh
  • Giống đậu nành chống chịu mặn có GEN gmst1 làm giảm sự sinh ra ROS, tăng cường độ nhạy với ABA, và chống chịu STRESS phi sinh học của cây Arabidopsis thaliana
  • Khám phá hệ giác quan cảm nhận độ ẩm không khí ở côn trùng
  • Phương pháp bền vững để phát triển cây lương thực nhờ các hạt nano
Designed & Powered by WEBSO CO.,LTD