Chào mừng Quý độc giả đến với trang thông tin điện tử của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam

Tin nổi bật
Thành tích

Huân chương Ðộc lập

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Huân chương Lao động

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Giải thưởng Nhà nước

- Nghiên cứu dinh dưởng và thức ăn gia súc (2005)

- Nghiên cứu chọn tạo và phát triển giống lúa mới cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa (2005)

Giải thưởng VIFOTEC

- Giống ngô lai đơn V2002 (2003)

- Kỹ thuật ghép cà chua chống bệnh héo rũ vi khuẩn (2005)

- Giống Sắn KM 140 (2010)

Trung tâm
Liên kết website
lịch việt
Thư viện ảnh
Video
Giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất cây cà phê Việt Nam

Thống kê truy cập
 Đang trực tuyến :  18
 Số lượt truy cập :  17223054
Isothiocyanates, Nitriles và Epithiobitriles của hợp chất glucosinates chịu ảnh hưởng bởi giống và giai đoạn phát triển của cây cải bắp Brassica oleraceae.
Thứ hai, 17-07-2017 | 07:40:50

Nguồn: Hanschen FS, Schreiner M. 2017. Isothiocyanates, Nitriles, and Epithionitriles from Glucosinolates Are Affected by Genotype and Developmental Stage in Brassica oleracea Varieties. Front Plant Sci. 2017 Jun 22;8:1095. doi: 10.3389/fpls.2017.01095. eCollection 2017.

TÓM TẮT

Rau ăn lá thuộc nhóm Brassica oleracea , ví dụ như broccoli (cải bông xanh), cauliflower (cải bông trắng), và cabbage (bắp cải), có vai trò quan trọng trong tiêu thụ glucosinolate của thực phẩm cho người. Căn cứ vào sự thấm ướt (maceration) của mô tế bào cây cải này, hợp chất glucosinolates bị phân giải bởi enzyme để biến thành những chất dễ bay hơi như isothiocyanates, nitriles, và epithionitriles. Tuy nhiên, chỉ có sự hấp thu chất isothiocyanates có liên quan đến ảnh hưởng ngăn ngừa được bệnh ung thư. Do vậy, nó trở thành sự chú ý đặc biệt để người ta đánh giá sự hình thành nên chất isothiocyanate ra làm sao. Ở đây, các tác giả công trình nghiên cứu này đã tiến hành nghiên cứu sự hình thành nên chất glucosinolates và những sản phẩm thủy phân tương ứng của chúng trong hạt cải mầm (sprouts) và cây cải phát triển hoàn toàn của các giống bắp cải khác nhau thuộc B. oleracea: đó là cải xanh broccoli, cải bông cauliflower cũng như các giống bắp cải khác có màu trắng, đỏ và cải lá nhăn (savoy cabbages). Nghiên cứu sâu hơn về “ontogeny” (các giai đoạn phát triển khác nhau của cây cải) trong khi phát triển đoạn đầu đối với việc hình thành hợp chất “glucosinolates” và những sản phẩm thủy phân tương ứng của chúng. Người ta đánh giá ba giai đoạn phát triển khác nhau (mini, phát triển hoàn toàn và trưởng thành hoàn toàn). Cải xanh broccoli và bắp cải đỏ tím có hàm lượng cao chất 4-(methylsulfinyl)butyl glucosinolate (glucoraphanin), trong khi đó giống cải bông cauliflower, bắp cải lá nhăn (savoy) và giống bắp cải trắng chứa chủ yếu chất 2-propenyl (sinigrin)3-(methylsulfinyl)propyl glucosinolate (glucoiberin). Kết quả thủy phân cho ra chất epithionitriles hoặc nitriles được quan sát là sản phẩm thủy phân chủ lực, có 1-cyano-2,3-epithiopropane vô cùng phong phú, đạt 5.7 μmol/g khối lượng mẫu tươi trong hạt mầm cải trắng (một loại làm giá). Theo đó, mầm hạt cải thường chứa gấp 10 lần hơn chất glucosinolates hoặc những sản phẩm thủy phân của chúng so với rau được phát triển trong toàn chu kỳ sống. Hơn nữa, trong phát triển cây cải (head), cả hai chất glucosinolate cũng như sản phẩm thủy phân của chúng đều thay đổi và cây cải “mini heads” có hàm lượng isothiocyanate cao nhất. Như vậy, theo quan điểm ngăn ngừa bệnh ung thư, tiêu dùng cây cải “mini heads” thuộc nhóm giống bắp cải B. oleracea nên được khuyến cáo.

GS Bùi Chí Bửu lược dịch

Xem: https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/28690627

 

Hình 2: Glucosinolates (GLSs) [μmol/g khối lượng tươi (FW)] và sản phẩm thủy phân của chúng [μmol/g FW] của những giống khác nhau thuộc nhóm cải bông xanh broccoli trong hạt cải nẩy mầm làm giá (sprouts) [(A) GLSs, (C) hydrolysis products] và cây cải “heads” phát triển hoàn toàn của broccoli [(B) GLSs, (D) hydrolysis products]. Chữ viết tắt: xem Bảng 2

Trở lại      In      Số lần xem: 145

[ Tin tức liên quan ]___________________________________________________
  • Bản đồ di truyền và chỉ thị phân tử trong trường hợp gen kháng phổ rộng bệnh đạo ôn của cậy lúa, GEN Pi65(t), thông qua kỹ thuật NGS
  • Bản đồ QTL chống chịu mặn của cây lúa thông qua phân tích quần thể phân ly trồng dồn của các dòng con lai tái tổ hợp bằng 50k SNP CHIP
  • Tuần tin khoa học 479 (16-22/05/2016)
  • Áp dụng huỳnh quang để nghiên cứu diễn biến sự chết tế bào cây lúa khi nó bị nhiễm nấm gây bệnh đạo ôn Magnaporthe oryzae
  • Vai trò của phân hữu cơ chế biến trong việc nâng cao năng năng suất và hiệu quả kinh tế cho một số cây ngắn ngày trên đất xám đông Nam Bộ
  • Tuần tin khoa học 475 (18-24/04/2016)
  • Vi nhân giống cây măng tây (Asparagus officinalis L.)
  • Thiết lập cách cải thiện sản lượng sắn
  • Nghiên cứu xây dựng hệ thống dự báo, cảnh báo hạn hán cho Việt Nam với thời hạn đến 3 tháng
  • Liệu thủ phạm chính gây nóng lên toàn cầu có giúp ích được cho cây trồng?
  • Tuần tin khoa học 478 (09-15/05/2016)
  • Sinh vật đơn bào có khả năng học hỏi
  • Côn trùng có thể tìm ra cây nhiễm virus
  • Bản đồ QTL liên quan đến tính trạng nông học thông qua quần thể magic từ các dòng lúa indica được tuyển chọn
  • Nghiên cứu khẳng định số loài sinh vật trên trái đất nhiều hơn số sao trong giải ngân hà chúng ta
  • Cơ chế di truyền và hóa sinh về tính kháng rầy nâu của cây lúa
  • Vật liệu bọc thực phẩm ăn được, bảo quản trái cây tươi hơn 7 ngày mà không cần tủ lạnh
  • Giống đậu nành chống chịu mặn có GEN gmst1 làm giảm sự sinh ra ROS, tăng cường độ nhạy với ABA, và chống chịu STRESS phi sinh học của cây Arabidopsis thaliana
  • Khám phá hệ giác quan cảm nhận độ ẩm không khí ở côn trùng
  • Phương pháp bền vững để phát triển cây lương thực nhờ các hạt nano
Designed & Powered by WEBSO CO.,LTD