Chào mừng Quý độc giả đến với trang thông tin điện tử của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam

Tin nổi bật
Thành tích

Huân chương Ðộc lập

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Huân chương Lao động

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Giải thưởng Nhà nước

- Nghiên cứu dinh dưởng và thức ăn gia súc (2005)

- Nghiên cứu chọn tạo và phát triển giống lúa mới cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa (2005)

Giải thưởng VIFOTEC

- Giống ngô lai đơn V2002 (2003)

- Kỹ thuật ghép cà chua chống bệnh héo rũ vi khuẩn (2005)

- Giống Sắn KM 140 (2010)

Trung tâm
Liên kết website
lịch việt
Thư viện ảnh
Video
Nông nghiệp 4.0 – Cơ hội cho nông nghiệp Việt Nam

Thống kê truy cập
 Đang trực tuyến :  18
 Số lượt truy cập :  19801279
Tuần tin khoa học 582 (14-20/05/2018)
Thứ hai, 14-05-2018 | 07:37:27

Chu trình truyền tín hiệu MAPK trong điều khiển kích thước hạt

 

Các nhà khoa học thuộc CAS (Chinese Academy of Sciences) và University of Chinese Academy of Sciences đã ghi nhận chuỗi phản ứng “cascade” của MAPK truyền tín hiệu điều khiển kích thước hạt thóc. Kết quả nghiên cứu này được công bố trên tạp chí Molecular Plant. Chu trình truyền tín hiệu MAPK được người ta biết có chức năng trong nhiều tiến trình  của sự tăng trưởng và phát triển của thực vật, cũng như hoạt động phản ứng tự vệ. Chuỗi phản ứng “cascade” MAPK bao gồm ít nhất ba kinases (1) MAPK kinase kinase (MKKK), (2) MAPK kinase (MKK) và (3) MAPK. Một nghiên cứu trước đây cho thấy đột biến mất chức năng (loss-of-function) của gen OsMKK4 (smg1) hình thành nên hạt thóc bé. Trong nghiên cứu gần đây nhất, người ta xác định được một đột biến gắn chức năng (gain-of-function) của gen OsMKK4, hình thành nên hạt thóc to. Họ còn xác định đột biến smg2, biểu hiện kiểu hình hạt thóc giống như kiểu hình hạt bé  smg1. Gen SMG2 mã hóa protein OsMKKK10. Sự thể hiện mạnh mẽ của OsMKKK10 có tính chất tích cực theo bản năng sẽ dẫn đến việc tạo ra hạt to. Người ta phân tích hóa sinh cho thấy OsMKKK10 có thể phosphoryl hóa theo chuỗi và kích hoạt OsMKK4 và OsMAPK6. Phân tích sâu hơn người ta thấy chúng tăng cường hoạt động của OsMAPK6 dẫn đến kết quả hạt to, trong khi hoạt động OsMAPK6 giảm đi làm cho hạt bé đi. Phân tích di truyền cho thấy rằng chức năng của OsMKKK10, OsMKK4, và OsMAPK6 trong một chu trình phổ biến giúp cho kích thước hạt tăng hoặc giảm. Như vậy OsMKKK10, OsMKK4 và OsMAPK6 hoạt động như một chuỗi “cascade” trong phosphoryl hóa để điều khiển kích thước hạt. Xem CAS.

 

SlbZIP1 điều hóa tính chống chịu stress sinh học và phi sinh học của cây cà chua

 

Protein đóng vai trò yếu tố phiên mã có vùng rất căn bản leucine zipper (bZIP) điều hòa phản ứng với stress ABA trong thực vật. Tuy nhiên, chức năng của hầu hết thành viên họ protein bZIP trong cây cà chua (Lycopersicon esculenta) vẫn còn chưa rõ ràng. Nhóm nghiên cứu của Mingku Zhu and Xiaoqing Meng thuộc Jiangsu  Normal University, đã tiến hành nghiên cứu chức năng của gen TF trong cà chua, đó là SlbZIP1,  điều kiện bị stress mặn và khô hạn. Làm câm gen SlbZIP1 trong cây cà chua  transgenic cho thấy sự chống chịu mặn và khô hạn giảm đi so với cây nguyên thủy (wild type). Kết quả cho thấy sự thể hiện giảm của sinh tổng hợp ABA và giảm số gen có liên quan đến truyền tín hiệu trong cây transgenic. Hơn nữa, các mức độ phiên mã của đa gen mã hóa protein có chức năng giúp cây tự vệ đối với stress sinh học và phi sinh học cũng sẽ điều tiết theo kiểu DOWN trong cây transgenic. Những phát hiện này cho thấy SlbZIP1 rất cần thiết trong chống chịu mặn và khô hạn của cây do qua trình điều tiết ABA. Gen này có thể được áp dụng với nhiều tiềm năng trong phát triển tính chống chịu mặn và khô hạn của cây cà chua. Xem BMC Plant Biology.

 

Sự thể hiện mạnh mẽ gen tăng cường vitamin B6 của cây Arabidopsis trong cây khoai tây chuyển gen

 

Vitamin B6 rất cần thiết cho sinh vật như một cơ chất trong nhiều phản ứng biến dưỡng. Trong khi nó có mặt trong nhiều cây trồng làm thực phẩm, nhưng khả năng dinh dưỡng của vitamin này trong phần ăn được của những loài cây như vậy vẫn thiếu hụt so với như cầu dinh dưỡng hằng ngày của con người. Kỹ thuật di truyền đã được chứng minh rằng tính khả thi của nó để làm gia tăng hàm lượng vitamin B6 trong loài cây mô hình. Theo nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu của Deepak Singh Bagri thuộc Dr. Harisingh Gour Central University, Ấn Độ đã phát triển thành công giống khoai tây biến đổi gen (Solanum tuberosum) thể hiện mạnh mẽ gen PDXII, điều khiển hàm lượng vitamin B6 trong cây mô hình Arabidopsis thaliana. Kết qủa xem xét củ cây khoai tây transgenic biểu hiệu có sự cải tiến đáng kểhàm lượng vitamin B6, đạt 150% gia tăng, so với khoai tây đối chứng. Sự gia tăng đáng kể vitamin B6 trong cây khoai tây transgenic còn kết hợp với tính trạng kháng stress phi sinh học ví dụ stress mặn. Xem Plant Science.

 

CRISPR- đột biến có chủ đích trong loci lặp đoạn của đậu nành

 

 Hệ thống CRISPR-Cas9 đã và đang là công cụ trong đột biến có chủ đích của cây trồng. Người ta xếp các mức độ áp dụng của nó, nhóm nghiên cứu Yuhei Kanazashi thuộc Hokkaido University, Nhật Bản đã nhằm mục đích sử dụng hệ thống CRISPR-Cas9 để hoàn thiện sự đột biến xảy ra đồng thời tại một locus lặp đoạn, GmPPD1GmPPD2, hai gen đồng dạng của Arabidopsis PEAPOD (PPD) và là gen của đậu nành (Glycine max), sử dụng chỉ có một “single guide RNA”. Hầu hết các cây chuyển nạp đều có đột biến tại loci chủ đích. Phân tích thế hệ T1 và T2 cho thấy rằng những đột biến như vậy trong thế hệ T0  có thể di truyền cho thế hệ sau đó. Những đột biến ở T1 plants cũng có thể di truyền thành công cho các thế hệ tiếp theo. Điều này cho thấy sự kích thích đột biến trong thế hệ T1 đã làm tăng sự xuất hiện những đột biến trong tế bào sinh dục, đảm bảo sự di truyền đột biến như vậy cho thế hệ sau. Đột biến tại các vị trí trực tiếp trên cả hai loci GmPPD đã được xác định ít nhất 33% hạt T2. Những đột biến kép có hiện tượng đột biến tại GmPPD1GmPPD2 xảy ra trên thùy lá (trifoliate), trái đậu bị xoắnn, và có ít hạt đậu trong một trái. Dữ liệu này cho thấy kích thích liên tục đột biến trong những thế hệ đầu của cây transgenic cho phép người ta tạo ra đột biến có hiệu quả đồng một lúc hai loci lặp đoạn trong cây đậu nành. Xem Plant Cell Reports.

 

CRISPR-Cas9 được áp dụng để tạo ra cà chua màu hồng

 

Màu quả cà chua là một trong những tính trạng có giá trị thương mại của cà chua (Solanum lycopersicum). Nhiều vùng khác nhau trên thế giới đều có thị hiếu tiêu dùng khác nhau, với cà chua màu hồng rất phổ biến tại châu Á, đặc biệt được người Trung Quốc và người Nhật Bản rất ưa chuộng. Nhóm nghiên cứu của Lei Deng thuộcChinese Academy of Sciences đã tiến hành phát triển giống cà chua có quả màu hồng tại gen đích SlMYB12, một gen then chốt điều khiển sự tích tụ của flavonoid trong cây cà chua.

 

Họ đã sử dụng CRISPR-Cas9 để xác trộn gen SlMYB12 trong dòng cà chua có quả màu đỏ. Mười một cây T0 được tái sinh thành công, Mười trong 11 cây ấy có ít nhất một alen đột biến SlMYB12, cho thấy hiệu quả “editing” rất cao (90.9%). Tất cả đột biến đồng hợp tử và bi-allelic đều thể hiện kiểu hình quả cà chua màu hồng. Không có bất cứ đột biến không chủ đích nào được tìm thấy. Xem chi tiết Journal of Genetics and Genomics.

 

THÔNG BÁO

 

Khóa đào tạo ngắn hạn châu Á về CNSH nông nghiệp, luật lệ an toàn sinh học và thông tin

 

 

Khóa đào tạo ngắn hạn châu Á về CNSH nông nghiệp, luật lệ an toàn sinh học và thông tin được tổ chức vào ngày  13-17 tháng Tàm năm 2018; tại Kuala Lumpur, Malaysia

Xem https://goo.gl/forms/QVzYKPOBi5dLNJcj1

email shamira@bic.org.myfarah@bic.org.my.

Hoặc download tại updated brochure của MABIC.

Trở lại      In      Số lần xem: 199

[ Tin tức liên quan ]___________________________________________________
  • Bản đồ di truyền và chỉ thị phân tử trong trường hợp gen kháng phổ rộng bệnh đạo ôn của cậy lúa, GEN Pi65(t), thông qua kỹ thuật NGS
  • Bản đồ QTL chống chịu mặn của cây lúa thông qua phân tích quần thể phân ly trồng dồn của các dòng con lai tái tổ hợp bằng 50k SNP CHIP
  • Tuần tin khoa học 479 (16-22/05/2016)
  • Áp dụng huỳnh quang để nghiên cứu diễn biến sự chết tế bào cây lúa khi nó bị nhiễm nấm gây bệnh đạo ôn Magnaporthe oryzae
  • Vai trò của phân hữu cơ chế biến trong việc nâng cao năng năng suất và hiệu quả kinh tế cho một số cây ngắn ngày trên đất xám đông Nam Bộ
  • Tuần tin khoa học 475 (18-24/04/2016)
  • Vi nhân giống cây măng tây (Asparagus officinalis L.)
  • Thiết lập cách cải thiện sản lượng sắn
  • Nghiên cứu xây dựng hệ thống dự báo, cảnh báo hạn hán cho Việt Nam với thời hạn đến 3 tháng
  • Liệu thủ phạm chính gây nóng lên toàn cầu có giúp ích được cho cây trồng?
  • Tuần tin khoa học 478 (09-15/05/2016)
  • Sinh vật đơn bào có khả năng học hỏi
  • Côn trùng có thể tìm ra cây nhiễm virus
  • Bản đồ QTL liên quan đến tính trạng nông học thông qua quần thể magic từ các dòng lúa indica được tuyển chọn
  • Nghiên cứu khẳng định số loài sinh vật trên trái đất nhiều hơn số sao trong giải ngân hà chúng ta
  • Cơ chế di truyền và hóa sinh về tính kháng rầy nâu của cây lúa
  • Vật liệu bọc thực phẩm ăn được, bảo quản trái cây tươi hơn 7 ngày mà không cần tủ lạnh
  • Giống đậu nành chống chịu mặn có GEN gmst1 làm giảm sự sinh ra ROS, tăng cường độ nhạy với ABA, và chống chịu STRESS phi sinh học của cây Arabidopsis thaliana
  • Khám phá hệ giác quan cảm nhận độ ẩm không khí ở côn trùng
  • Phương pháp bền vững để phát triển cây lương thực nhờ các hạt nano
Designed & Powered by WEBSO CO.,LTD