Chào mừng Quý độc giả đến với trang thông tin điện tử của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam

Tin nổi bật
Thành tích

Huân chương Ðộc lập

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Huân chương Lao động

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Giải thưởng Nhà nước

- Nghiên cứu dinh dưởng và thức ăn gia súc (2005)

- Nghiên cứu chọn tạo và phát triển giống lúa mới cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa (2005)

Giải thưởng VIFOTEC

- Giống ngô lai đơn V2002 (2003)

- Kỹ thuật ghép cà chua chống bệnh héo rũ vi khuẩn (2005)

- Giống Sắn KM 140 (2010)

Trung tâm
Liên kết website
lịch việt
Thư viện ảnh
Video
Nông nghiệp 4.0 – Cơ hội cho nông nghiệp Việt Nam

Thống kê truy cập
 Đang trực tuyến :  11
 Số lượt truy cập :  19762493
Nghiên cứu ứng dụng chế phẩm GA3 nhằm nâng cao năng suất chất lượng thuốc lá vàng sấy
Thứ năm, 25-10-2018 | 10:03:28
Trong sản xuất thuốc lá nguyên liệu, vị bộ lá nách trên (lá B) và vị bộ lá ngọn (vị bộ lá T) đóng góp từ 35 - 40 % năng suất lá khô của toàn cây nhưng có những đặc tính hạn chế như sau cấu tạo lá dày, kết cấu tế bào chắc đặc nên có thể gây khó khăn cho quá trình khô kiệt của lá trong lò sấy, thường tạo ra sản phẩm lá sấy tối màu và có tỷ lệ lá cấp 1+2 thấp, đồng thời tạo ra thuốc lá sợi có độ điền đầy thấp.
 

 

Một số nghiên cứu trên thế giới đã công bố xử lý GA3 cho thuốc lá cho thấy hiệu quả tăng kích thước và tăng tích lũy chất khô của lá, dẫn đến tăng năng suất thuốc lá. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu còn cho biết xử lý GA3 cho thuốc lá đã làm giảm độ dày lá các vị bộ B và T, giảm hàm lượng nicotin và tăng đường khử, tạo ra sự hài hoà của 2 thành phần này trong thuốc lá, dẫn đến tạo thuận lợi cho công nghệ thuốc lá điếu.

 

Cho đến nay, các nghiên cứu trong lĩnh vực kỹ thuật canh tác nhằm cải thiện chất lượng thuốc lá nguyên liệu ở nước ta chủ yếu tập trung nghiên cứu về thời vụ, chế độ dinh dưỡng, ngắt ngọn - diệt chồi, kỹ thuật hái và sấy. Hướng nghiên cứu ứng dụng chất điều tiết sinh trưởng trong sản xuất nguyên liệu thuốc lá nội địa chưa được quan tâm do đó nghiên cứu biện pháp xử lý GA3 cho thuốc lá vàng sấy (TLVS) là nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp thiết nhằm góp phần cải thiện năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất nguyên liệu thuốc lá trong nước.

 

Với mục tiêu xác định nồng độ và thời điểm xử lý GA3 thích hợp, cho hiệu quả cải thiện, nâng cao năng suất và chất lượng nguyên liệu TLVS cũng như có thể ban hành hướng dẫn kỹ thuật xử lý GA3 cho cây TLVS, nhóm nghiên cứu do ThS. Đinh Văn Năng, Tổng công ty Thuốc lá Việt Nam đứng đầu đã kiến nghị và được chấp thuận thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ứng dụng chế phẩm GA3 nhằm nâng cao năng suất chất lượng thuốc lá vàng sấy”.

 

Qua 2 năm nghiên cứu, đề tài thu được một số kết quả như sau:

 

1. Nồng đô ̣phun GA3 thích hơp ̣ cho cây thuốc lá vàng sấy là 30ppm.

 

2. Phun GA3 cho cây thuốc lá vàng sấy 2 lần vào thờ i điểm 15-17 lá/cây và 22- 24 lá/cây cho hiêu ̣ quả tốt hơn chỉ phun 1 lần vào thờ i điểm 15-17 lá/cây.

 

3. Mô hình áp dụng các biên ̣ pháp xử lý GA3 trên cây thuốc lá vàng sấy vùng Cao Bằng so với không xử lý đã cho một số kết quả như sau:

 

+ Cải thiện kích thước, khối lượng lá (chủ yếu là vị bộ lá nách trên và lá ngọn) và làm tăng năng suất lá sấy (tăng 9,3%);

 

+ Cải thiện rõ rệt phẩm cấp và làm tăng giá bán/kg thuốc lá (cấp 1+2 tổng cộng tăng thêm trên 10% và chủ yếu là cải thiện phẩm cấp vị bộ lá nách trên và lá ngọn; Giá bán tăng thêm 1.310 đ/kg);

 

+ Cải thiện được một số tính chất lý, hoá hoc ̣ và tính chất hút của nguyên liệu: Làm giảm tỷ lệ cọng lá vị bộ lá nách trên và lá ngọn; Giảm độ dày và tăng độ điền đầy; Tăng hàm lượng nhựa thơm và cải thiện hương thơm.

 

4. Xây dựng Hướng dẫn kỹ thuật xử lý GA3. Các hướng dẫn kỹ thuật xử lý GA3 cho cây thuốc lá vàng sấy do Viện Thuốc lá đã ban hành được cho phép ứng dụng trong sản xuất nguyên liệu thuốc lá.

Theo MOST.

Trở lại      In      Số lần xem: 50

[ Tin tức liên quan ]___________________________________________________
  • Bản đồ di truyền và chỉ thị phân tử trong trường hợp gen kháng phổ rộng bệnh đạo ôn của cậy lúa, GEN Pi65(t), thông qua kỹ thuật NGS
  • Bản đồ QTL chống chịu mặn của cây lúa thông qua phân tích quần thể phân ly trồng dồn của các dòng con lai tái tổ hợp bằng 50k SNP CHIP
  • Tuần tin khoa học 479 (16-22/05/2016)
  • Áp dụng huỳnh quang để nghiên cứu diễn biến sự chết tế bào cây lúa khi nó bị nhiễm nấm gây bệnh đạo ôn Magnaporthe oryzae
  • Vai trò của phân hữu cơ chế biến trong việc nâng cao năng năng suất và hiệu quả kinh tế cho một số cây ngắn ngày trên đất xám đông Nam Bộ
  • Tuần tin khoa học 475 (18-24/04/2016)
  • Vi nhân giống cây măng tây (Asparagus officinalis L.)
  • Thiết lập cách cải thiện sản lượng sắn
  • Nghiên cứu xây dựng hệ thống dự báo, cảnh báo hạn hán cho Việt Nam với thời hạn đến 3 tháng
  • Liệu thủ phạm chính gây nóng lên toàn cầu có giúp ích được cho cây trồng?
  • Tuần tin khoa học 478 (09-15/05/2016)
  • Sinh vật đơn bào có khả năng học hỏi
  • Côn trùng có thể tìm ra cây nhiễm virus
  • Bản đồ QTL liên quan đến tính trạng nông học thông qua quần thể magic từ các dòng lúa indica được tuyển chọn
  • Nghiên cứu khẳng định số loài sinh vật trên trái đất nhiều hơn số sao trong giải ngân hà chúng ta
  • Cơ chế di truyền và hóa sinh về tính kháng rầy nâu của cây lúa
  • Vật liệu bọc thực phẩm ăn được, bảo quản trái cây tươi hơn 7 ngày mà không cần tủ lạnh
  • Giống đậu nành chống chịu mặn có GEN gmst1 làm giảm sự sinh ra ROS, tăng cường độ nhạy với ABA, và chống chịu STRESS phi sinh học của cây Arabidopsis thaliana
  • Khám phá hệ giác quan cảm nhận độ ẩm không khí ở côn trùng
  • Phương pháp bền vững để phát triển cây lương thực nhờ các hạt nano
Designed & Powered by WEBSO CO.,LTD