Chào mừng Quý độc giả đến với trang thông tin điện tử của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam

Tin nổi bật
Thành tích

Huân chương Ðộc lập

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Huân chương Lao động

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Giải thưởng Nhà nước

- Nghiên cứu dinh dưởng và thức ăn gia súc (2005)

- Nghiên cứu chọn tạo và phát triển giống lúa mới cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa (2005)

Giải thưởng VIFOTEC

- Giống ngô lai đơn V2002 (2003)

- Kỹ thuật ghép cà chua chống bệnh héo rũ vi khuẩn (2005)

- Giống Sắn KM 140 (2010)

Trung tâm
Liên kết website
lịch việt
Thư viện ảnh
Video
Trung Tâm NC Khoai tây, Rau và Hoa, trồng rau Hàn Quốc theo VietGap

Thống kê truy cập
 Đang trực tuyến :  6
 Số lượt truy cập :  25668400
Phân tích kính hiển vi mới cho phép phát hiện phức hợp bám dính quan trọng
Thứ sáu, 26-03-2021 | 08:13:18
Các nhà khoa học tại Đại học Münster và Viện Sinh hóa Max Planck đã phát triển một phương pháp giúp xác định sự sắp xếp và mật độ của các protein riêng lẻ bên trong tế bào. Bằng cách này, họ có thể chứng minh sự tồn tại của một phức hợp bám dính bao gồm ba protein.

Tế bào của các sinh vật được tổ chức thành các khoang dưới tế bào chứa đựng nhiều phân tử riêng lẻ. Cách thức những protein đơn lẻ này được tổ chức ở mức độ phân tử vẫn chưa rõ ràng, bởi vẫn đang thiếu các phương pháp phân tích phù hợp. Các nhà nghiên cứu tại Đại học Münster cùng với những cộng sự tại Viện Sinh hóa Max Planck (Munich, Đức) đã thiết lập một kỹ thuật mới cho phép định lượng mật độ phân tử và cách tổ chức ở mức độ nano của những protein riêng lẻ bên trong tế bào. Ứng dụng đầu tiên của phương pháp này cho thấy một phức hợp gồm ba loại protein bám dính dường như có vai trò quan trọng đối với khả năng bám dính của tế bào với mô xung quanh. Các kết quả của nghiên cứu này mới được xuất bản trên tạp chí Nature Communications.

Cơ sở và phương pháp luận

Sự gắn kết của các tế bào được thực hiện qua trung gian của các phức hợp bám dính đa phân tử được xây dựng bởi hàng trăm loại protein khác nhau. Sự phát triển của kính hiển vi siêu phân giải, được vinh danh với giải thưởng Nobel năm 2014, đã cho phép xác định các thành phần cấu trúc cơ bản bên trong các phức hợp này. Tuy nhiên, vẫn chưa rõ cách thức các protein đơn lẻ gắn kết và đồng tổ chức để hình thành các đơn vị chức năng. Các phòng thí nghiệm của Giáo sư Tiến sĩ Carsten Grashoff tại Viện Sinh học phân tử tế bào (Đại học Münster) và Giáo sư Tiến sĩ Ralf Jungmann tại Viện Sinh hóa Max Planck (Munich) hiện đã phát triển thành công một phương pháp hoàn toàn mới cho phép quan sát và định lượng các quá trình phân tử như vậy ngay cả trong các cấu trúc dưới tế bào rất dày đặc.

Lisa Fischer, Nghiên cứu sinh trong nhóm của Grashoff và là tác giả chính của nghiên cứu, giải thích: “Một hạn chế chủ yếu ngay cả đối với các kỹ thuật kính hiển vi siêu phân giải tốt nhất đó là nhiều phân tử vẫn không được phát hiện. Do đó, gần như không thể đưa ra các tuyên bố định lượng về quá trình hình thành các phức hợp phân tử bên trong tế bào”. Khó khăn này hiện tại có thể được giải quyết nhờ sự kết hợp của các đối chứng thực nghiệm và lý thuyết.

Fischer giải thích thêm: “Bằng cách áp dụng phương pháp phân tích mới, chúng tôi có thể cung cấp bằng chứng về sự tồn tại của một phức hợp bám dính có cấu trúc gồm ba phần đã nghi ngờ từ lâu. Trước đó, chúng tôi đã biết rằng mỗi ba phân tử này đều rất quan trọng đối với quá trình bám dính của tế bào. Tuy nhiên, vẫn không rõ liệu cả ba protein này có kết hợp cùng nhau để hình thành một phân tử chức năng hay không”.Vì phương pháp này có tính ứng dụng rộng, các nhà khoa học tin rằng nhiều quá trình khác của tế bào cũng sẽ được nghiên cứu với quy trình phân tích mới này.


Tài liệu tạp chí: Lisa S. Fischer, Christoph Klingner, Thomas Schlichthaerle, Maximilian T. Strauss, Ralph Böttcher, Reinhard Fässler, Ralf Jungmann, Carsten Grashoff. Quantitative single-protein imaging reveals molecular complex formation of integrin, talin, and kindlin during cell adhesionNature Communications, 2021; 12 (1) DOI: 10.1038/s41467-021-21142-2

Trần Thùy Trang - P. CNSH Vi sinh, theo Hcmbiotech

 

Trở lại      In      Số lần xem: 32

[ Tin tức liên quan ]___________________________________________________
  • Bản đồ di truyền và chỉ thị phân tử trong trường hợp gen kháng phổ rộng bệnh đạo ôn của cậy lúa, GEN Pi65(t), thông qua kỹ thuật NGS
  • Bản đồ QTL chống chịu mặn của cây lúa thông qua phân tích quần thể phân ly trồng dồn của các dòng con lai tái tổ hợp bằng 50k SNP CHIP
  • Tuần tin khoa học 479 (16-22/05/2016)
  • Áp dụng huỳnh quang để nghiên cứu diễn biến sự chết tế bào cây lúa khi nó bị nhiễm nấm gây bệnh đạo ôn Magnaporthe oryzae
  • Vai trò của phân hữu cơ chế biến trong việc nâng cao năng năng suất và hiệu quả kinh tế cho một số cây ngắn ngày trên đất xám đông Nam Bộ
  • Tuần tin khoa học 475 (18-24/04/2016)
  • Vi nhân giống cây măng tây (Asparagus officinalis L.)
  • Thiết lập cách cải thiện sản lượng sắn
  • Nghiên cứu xây dựng hệ thống dự báo, cảnh báo hạn hán cho Việt Nam với thời hạn đến 3 tháng
  • Liệu thủ phạm chính gây nóng lên toàn cầu có giúp ích được cho cây trồng?
  • Tuần tin khoa học 478 (09-15/05/2016)
  • Sinh vật đơn bào có khả năng học hỏi
  • Côn trùng có thể tìm ra cây nhiễm virus
  • Bản đồ QTL liên quan đến tính trạng nông học thông qua quần thể magic từ các dòng lúa indica được tuyển chọn
  • Nghiên cứu khẳng định số loài sinh vật trên trái đất nhiều hơn số sao trong giải ngân hà chúng ta
  • Cơ chế di truyền và hóa sinh về tính kháng rầy nâu của cây lúa
  • Vật liệu bọc thực phẩm ăn được, bảo quản trái cây tươi hơn 7 ngày mà không cần tủ lạnh
  • Giống đậu nành chống chịu mặn có GEN gmst1 làm giảm sự sinh ra ROS, tăng cường độ nhạy với ABA, và chống chịu STRESS phi sinh học của cây Arabidopsis thaliana
  • Khám phá hệ giác quan cảm nhận độ ẩm không khí ở côn trùng
  • Phương pháp bền vững để phát triển cây lương thực nhờ các hạt nano
Designed & Powered by WEBSO CO.,LTD