Chào mừng Quý độc giả đến với trang thông tin điện tử của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam

Tin nổi bật
Thành tích

Huân chương Ðộc lập

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Huân chương Lao động

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Giải thưởng Nhà nước

- Nghiên cứu dinh dưởng và thức ăn gia súc (2005)

- Nghiên cứu chọn tạo và phát triển giống lúa mới cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa (2005)

Giải thưởng VIFOTEC

- Giống ngô lai đơn V2002 (2003)

- Kỹ thuật ghép cà chua chống bệnh héo rũ vi khuẩn (2005)

- Giống Sắn KM 140 (2010)

 

Trung tâm
Liên kết website
lịch việt
Thư viện ảnh
Video
Thiết lập chuỗi giá trị nông sản thông minh và an toàn tại Việt Nam Cà chua bi

Thống kê truy cập
 Đang trực tuyến :  33
 Số lượt truy cập :  36514047
Ứng dụng công nghệ sinh học trong dinh dưỡng bò thịt
Thứ năm, 03-05-2018 | 09:05:37

TS. Chung Anh Dũng

 

Dinh dưỡng cho bò thịt là vấn đề quan trọng, vì thức ăn luôn chiếm hơn 60% giá thành sản xuất thịt bò, nên người chăn nuôi luôn tìm những biện pháp vừa đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của bò thịt để nó sản xuất tốt nhất, vừa giảm đến mức thấp nhất chi phí dành cho thức ăn. Công nghệ sinh học hiện đang là công cụ đột phá để cải thiện dinh dưỡng cho bò thịt và mang lại hiệu quả tốt nhất.

Các nhà khoa học của 10 trường đại học, công ty và bộ Nông nghiệp Mỹ gần đây đang tập trung vào một dự án quốc gia có tên gọi “Cải thiện di truyền tính trạng sử dụng hiệu quả thức ăn của bò thịt” (2014). Đây là hướng nghiên cứu ứng dụng các kỹ thuật mới kết hợp giữa di truyền, genomic và dinh dưỡng nhằm mục tiêu chọn ra những giống bò thịt có khả năng sản xuất, tăng trọng tốt nhưng tiêu tốn thức ăn như bình thường hoặc thấp hơn bình thường, điều này nhờ vào khả năng chuyển hóa thức ăn tốt hơn. Các nhà khoa học nhận thấy rằng khi cải thiện 1% hiệu quả sử dụng thức ăn sẽ giúp cải thiện tương đương 3% tăng trọng. Để làm được điều này, họ đã thu thập mẫu DNA, số liệu về tăng trọng, khả năng ăn vào và thành phần thịt xẻ trên 8.000 bò thịt từ 8 giống bò Angus, Red Angus, Hereford, Simmental, Charolaise, Limousin, Wagyu và Geblvieh để tính toán giá trị giống phân tử (Molecular EDP) trên tính trạng hiệu quả sử dụng thức ăn, nhằm phục vụ công tác chọn được giống bò thịt sử dụng thức ăn hiệu quả nhất. Cải thiện hiệu quả sử dụng thức ăn (tăng thêm 5%) cho bò thịt sẽ mang lại hiệu quả kinh tế gấp bốn lần so với cùng mức tăng 5% của tăng trọng bình quân ngày (Susan Markus. 2014). Điều này đơn giản là vì chi phí thức ăn chiếm 2/3 chi phí sản xuất thịt bò hiện nay. Để làm được điều này, các nhà khoa học cần một công cụ đánh giá hiệu quả sử dụng thức ăn, và đó chính là chỉ số RFI (Residual Feed Intake), tạm dịch là khả năng ăn vào tồn dư, chính là sự chênh lệch giữa lượng thức ăn bò thịt ăn vào hay tiêu thụ thực tế so với lượng thức ăn cần thiết được tính toán dựa trên nhu cầu duy trì khối lượng cơn thể, mức độ tăng trọng bình quân ngày theo dự kiến, trong suốt thời gian kiểm tra. Nếu chỉ số này âm chứng tỏ bò thịt sử dụng hiệu quả thức ăn hơn. Mohammed K Abo-Ismail và cộng sự (2014) đã tìm thấy các gen liên quan đến tính trạng RFI nằm trên các nhiễm sắc thể số 8, 15, 16, 18, 19, 21 và 28. Trong số đó, liên kết chặt với tính trạng RFI là gen ELP3 trên nhiễm sắc thể số 8. Ngoài ra các gen HMCN1 (NST 16), gen ZNF423 (NST 18) cũng liên kết khá chặt với tính trạng RFI. Điều này cho thấy khả năng sử dụng các gen ứng viên này vào công tác đánh giá chất lượng con giống, thông qua chỉ số GEBV. Từ đó phục vụ cho công tác chọn giống bò thịt có khả năng sử dụng thức ăn hiệu quả hơn.

Trở lại      In      Số lần xem: 1083

[ Tin tức liên quan ]___________________________________________________
  • Tuần tin khoa học 492 (15-21/08/2016)
  • Sử dụng cây che phủ để loại bỏ chất ô nhiễm khỏi đất canh tác
  • Hấp thu không khí, tạo ra năng lượng
  • Tác động của pH đến năng suất, sự phát triển rễ và hấp thụ dinh dưỡng của cây hồ tiêu (Piper nigrum L.)
  • Sâu bệnh hại ngô chịu ảnh hưởng của khí hậu
  • Phản ứng với stress mặn của lúa (Oryza sativa L.) với sự đa dạng ở giai đoạn lúa trổ đến thu hoạch
  • Ảnh hưởng của ba khoảng cách hàng trên các đặc tính nông học và năng suất của năm giống đậu nành [Glycine max (L.) MERR.] vụ xuân hè 2015 tại tỉnh Vĩnh Long
  • Các phân tử nhỏ giúp tạo ra ngũ cốc thông minh hơn
  • Đánh giá tính thích nghi và ổn định của các dòng/giống Lúa thơm triển vọng ở đồng bằng sông Cửu Long
  • Giải trình hệ gien của bệnh nấm có thể giúp ngăn chặn bệnh hại chuối
  • Một gen tương đồng của cây lúa đối với gen của cây arabidopsis “agd2-like defense1” đóng góp vào tính kháng bệnh đạo ôn do nấm Magnaporthe oryzae
  • Xử lý bùn thải sinh học bằng giun Quế tạo ra sản phẩm phân bón hữu cơ
  • Đồng phân LuxR ký gửi trên cây populus deltoides, kích hoạt sự thể hiện gen đáp ứng với tín hiệu thực vật hoặc những peptides đặc biệt
  • Cây lúa có hiệu quả sử dụng nitơ tốt hơn
  • Khám phá thêm những bí mật về loài hoa hướng dương
  • Nghiên cứu sản xuất và sử dụng chế phẩm từ nấm Lecanicillium spp, để diệt rệp muội (Aphidae) gây hại cây trồng
  • Nghiên cứu thời gian sử dụng thuốc trừ sâu tốt nhất để kiểm soát bệnh vàng lá gân xanh
  • Thuốc bảo vệ thực vật bảo vệ cây trồng như thế nào?
  • Đo thời gian lưu trú của nitơ trong đất có thể giúp ích cho nông nghiệp
  • Nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm nấm rễ cộng sinh Arbuscular Mycorriza Fungi (AMF) đến sinh trưởng, phát triển cây đinh lăng tại Gia Lâm – Hà Nội
Designed & Powered by WEBSO CO.,LTD